Điểm Tin Cập Nhật

0

ĐI TÌM CON GÁI TT BOKASSA (1/2)

2 NÀNG “CÔNG CHÚA LỌ LEM”SG Ng Viet 1

BAXI & MARTINE BOKASSA

- Bút ký của : NGUYỄN VIỆT (bài 1)
Lời nói đầu : Nhiều bạn bè thân hữu đống môn khi biết tôi từng là thư ký tòa soạn nhật báo Trắng Đen – 1968-1975, một tờ nhật báo năm xưa được người đời ví là tờ báo lá cải, nhưng lại là tờ nhật báo có số bán (tiêu thụ) lớn nhất thời đó, với số lượng gần 200.000 tờ/ngày trong số khoảng 20 tờ báo ngày, phát hành toàn cõi miền Nam Việt Nam. Đã hỏi, mày có biết vụ Tổng thống CH Trung Phi Bokassa ?
Vụ Tổng thống Bokassa tìm con vào năm 1972 đã gây sôi nổi trong toàn xã hội, lan ra thế giới (các tạp chí nước ngoài đều đưa tin), chuyển thành câu chuyện chính trị giữa 4 bên : Sài Gòn – Hà Nội – Pháp và Hoa Kỳ.
Câu hỏi đó tôi cũng đã trả lời đến các bạn bè thân hữu đồng môn, hôm nay xin thuật lại với đầy đủ chi tiết. (Nguyễn Việt)
Đây là câu chuyện được kể lại về 2 nàng “công chúa lọ lem” mang tên Ba-xi và Martine Bokassa, xảy ra vào năm 1972 tại miền Nam thời Đệ Nhị Cộng Hòa bấy giờ.
9 Bokassa 8Câu chuyện lúc đó không chỉ đơn thuần mang tính chất xã hội, một người chồng một người cha thất lạc vợ con sau một khoảng thời gian dài, vì vào năm đó ông đang là Tổng Thống của một quốc gia thuộc châu Phi.
Có lẽ khi nhớ lại những năm tháng, những ngày ông đi theo đoàn quân Lê Dương Pháp đến ba nước Đông Dương bảo hộ theo chế độ thuộc địa, bỗng nhiên nhớ lại, ông còn có một đứa con rơi, và bắt đầu đi tìm tung tích người thân.
Ông là Jean Bedel Bokassa, Tổng thống của nước Cộng Hòa Trung Phi từ năm 1966 đến 1979.
Đây là bút ký được viết vào đầu Thiên niên kỷ thứ III, tức vào năm 2000, nhằm cống hiến đến bạn đọc chuyện 2 nàng con lai da đen đã trở thành công chúa đất Phi Châu. Mà một thời Sài Gòn đầy sôi động. (trích Almach “Kiến thức dành cho mọi người” của tác giả đã xuất bản năm 2001)

PHÁT HIỆN “CÔNG CHÚA GIẢ”

Tôi còn nhớ vào một buổi trưa khi đang ngồi trực điện thoại chờ tin “tự ý đục bỏ” từ Bộ DVTTCH gọi đến, tức khoảng 11g30 đến 12g30. Có một người đàn ông dáng vẻ tốt tướng, khoảng chừng tuổi hơn năm mươi, đến gặp tôi rồi hớt hơ hớt hải lên tiếng hỏi :
- Chú có thể cho tôi gặp ông chủ nhiệm hay chủ bút báo Trắng Đen được không ?
Tôi từ tốn trả lời người đàn ông mới đến :
- Dạ thưa, giờ này ông chủ nhiệm đã về nghỉ trưa, nếu bác có việc cần thì tôi có thể tiếp, như bác muốn đăng khiếu nại hay một chuyên mục gì trên báo, xin bác cứ cho tôi biết, vì tôi hiện là ký giả thường trực của báo trong giờ này.
Người đàn ông nọ như đã tin cậy vào câu trả lời của tôi, bắt đầu đi vào câu chuyện :
9 Bokassa 3- Chắc chú biết vụ cô Ba-Xi ở xóm Gà được đưa qua nước Cộng Hòa Trung Phi làm con gái của Tổng Thống Bokassa ?
Nghe ra chuyện của Ba Xi mà báo chí vừa đăng tốn không biết bao nhiêu giấy mực, tôi liền đáp ngay :
- Dạ, tin tức này các báo đều đăng, Bộ Ngoại Giao đã tìm được đứa con gái cho Tổng thống Bokassa, và cha con họ vừa đoàn tụ sau mười mấy năm cách biệt.
Tôi vừa nói đến đây, ông ta bỗng trợn trừng đôi mắt lên tranh cãi :
- Không phải con nhỏ Ba-Xi là con của Tổng Thống Bokassa đâu chú ơi !!!
Lúc bấy giờ tôi mới thật ngạc nhiên, chăm chú nhìn người khách không quản giờ nghỉ trưa tìm đến tòa soạn rồi đưa ra lời đính chính ấy. Tôi phải lên tiếng hỏi :
- Ủa sao bác nói vậy, chính Tổng Thống Bokassa đã nhìn nhận và cô Ba-Xi đã đến Trung Phi, hai người cũng đã giáp mặt nhận nhau là cha con ruột thịt rồi ?!
Bấy giờ ông ta mới mở một túi ny-lông, trong đó gói một số giấy tờ và hình ảnh đưa tôi xem, đoạn nói :
- Chú xem, đây là hình của chị tôi tên Nguyễn Thị Huệ và Tổng thống Bokassa khi còn ăn ở với nhau tận bên Tân Thuận Đông – Nhà Bè; còn đây là hình cháu gái tôi tên Martine, họ mới đúng là vợ con của Tổng thống Bokassa, còn bà Thân và cô Ba-Xi kia thuộc đồ “giả mạo”.
Tôi đi từ ngạc nhiên này đến ngạc khác, khi có người nói Ba-Xi đưa qua Trung Phi là “đồ giả mạo”, một khi Bộ Ngoại Giao đã công bố và gửi công hàm qua đường ngoại giao đến nước CH Trung Phi báo tin, họ đã tìm hiểu đích xác sau khi các cơ quan hữu quan đã điều tra đến tận gốc rể; mới dám công bố chính thức cho các báo và trao công hàm đến nước CH Trung Phi xác nhận Ba-Xi là dòng máu của TT Bokassa. Chính quyền có người có phương tiện, không lẽ đưa một cô gái lai có nước da đen rồi trắng trợn cho thừa nhận là con gái của một vị Tổng Thống ?! Dù là Tổng thống ở một nước châu Phi xa xôi vạn dặm ?
Lúc đó tôi xem qua tấm hình chụp bà Huệ với một người lính Lê Dương da đen, tôi không thể nói người lính này chính là Tổng thống Bokassa, vì tài liệu từ Bộ Ngoại Giao chuyển cho các báo đăng tải về việc giao con cho TT Bokassa không có hình của ông. Còn tấm hình mà người đàn ông gọi là Martine, chụp theo kiểu chân dung, có mái tóc đen xoắn và cũng có nước da đen, đúng là một cô gái lai da màu chính gốc.
9 Bokassa 9Ngoài hai tấm hình còn thêm một tờ giấy khai sinh mang tên Nguyễn Thị Martine, tên mẹ Nguyễn Thị Huệ, tên cha vô danh. Cô gái này sinh ra tại Rừng Sát (ghi chú : sinh vào thời gian 1955 hay 1956 gì đó, người viết không còn tư liệu để nói chính xác ngày tháng năm).
Tôi mới hỏi lại người đàn ông nọ :
- Bác là em của bà Huệ ?
- Dạ đúng (ông ta có xưng tên nhưng đến nay tôi cũng không còn nhớ rõ tên, nên tạm gọi là ông Sáu).
- Sao bà Huệ không đi khiếu nại mà nhờ đến bác ?
- Chị tôi bận ở chỗ làm, bả cũng không biết đi khiếu nại có ai chịu tin không, vì chị tôi nghĩ là có liên quan đến chức Tổng Thống nên sợ người ta hiểu lầm. Bả nói, cậu có tức thì đi khiếu nại còn tui không đi đâu. Tôi tức lắm chú ơi, ai đời cháu mình mới đúng là con của Tổng thống Bokassa, mà người ta lại đưa cô gái nào đó cho đó là con của Bokassa để đưa đi.
Tôi mới nói tiếp :
- Nhìn qua tài liệu bác đưa, và những lời bác vừa kể thấy cũng có nhiều chi tiết đáng được chú ý, nhưng câu chuyện này không đơn thuần, vì rằng chính phủ đã xác nhận cô Ba-Xi ở xóm Gà là con Tổng thống Bokassa và đã giao con gái cho ông ta rồi. Nếu chúng tôi không điều tra kỹ thì nội vụ sẽ dẫn đến việc đóng cửa tờ báo, bởi chuyện này đụng chạm về ngoại giao giữa các nước đó !
Sau đó tôi lại hỏi tiếp ông Sáu :
- Sao bác tìm đến báo Trắng Đen đưa những tài liệu này ?
Ông Sáu liền phân trần :
- Sự thật thì tôi là đọc giả báo Tin Sáng, nhưng tờ này thuộc báo đối lập chính quyền. Hồi nãy tôi có qua đó đưa cho họ xem, nhưng họ cũng nói như chú, đăng vụ này sẽ đụng chạm tới chính quyền. Vã lại tờ Tin Sáng chuyên về chính trị còn về xã hội họ không chuyên nghiệp, nên giới thiệu tôi qua đây, họ nói tờ Trắng Đen hay khai thác các vụ án như thế này, có thể giúp chị tôi trong vụ Ba-Xi giả đó.
Tôi thấy ông Sáu nói rất thật thà về chuyện chị và cháu ông, và qua nghề nghiệp phân tích thì thấy câu chuyện Martine này mang xác suất có đến hơn 50% sự thật, cùng với nét mặt của người kể, ông Sáu không có dấu hiệu tỏ ra gian xảo, lừa đảo, ông đã trả lời thật rành rẽ từng thắc mắc, tình huống, tính tình ông bộc trực không giấu giếm điều gì, khi nói không cần uốn lưỡi bảy lần (theo kiểu gian dối cần suy nghĩ trước khi nói), quả là những câu nói rất ngay tình.
9 Bokassa 7Tôi mới nói với ông Sáu :
- Muốn tờ Trắng Đen làm sáng tỏ vụ cháu gái Martine của bác, nhưng không biết gia đình bác có chịu những điều kiện do chúng tôi đưa ra không ?
- Chú cứ nói.
- Điều kiện ở đây, một là tờ Trắng Đen phải giữ độc quyền mọi tin tức, tức cô Martine phải đến ở một nơi mà các báo khác không thể đến săn tin hay chụp hình được. Hai là gia đình bác chỉ cung cấp tin tức cho tờ Trắng Đen thôi. Nếu có các báo khác tới gia đình hỏi thăm tin tức phải nhất quyết không trả lời. Nếu bác chịu thì chúng tôi sẽ bắt đầu mở rộng việc điều tra, đi tìm chứng cớ tài liệu vụ việc như bác vừa kể.
Nghe tôi nói xong, ông Sáu đã sốt sắng trả lời ngay :
- Chuyện này chị tôi đã uỷ quyền, tôi xin hứa những điều kiện này.
- Vậy bà Huệ và cô Martine hiện giờ ở đâu ?
- Gia đình chúng tôi đều ở khu ngã tư gần chợ nhỏ Thủ Đức, còn con Martine đang làm phu khuân vác xi-măng ở nhà máy xi-măng Hà Tiên trên xa lộ.
- Vậy bác Sáu chờ tôi một chút, tôi sẽ báo cho ông chủ nhiệm biết tin này và sẽ cùng đi với bác về nhà.
Sau khi dặn dò ông Sáu xong, tôi liền gọi cho ông chủ nhiệm Trắng Đen. Và ông chủ nhiệm sau khi nghe qua các tình tiết mà tôi nắm được kể lại, liền tức tốc lái xe ra ngay tòa soạn gặp ông Sáu, ngồi nghe kể cũng như xem qua các hình ảnh tài liệu như đã nói. Bấy giờ ông chủ nhiệm mới cho biết, sẽ chở ông Sáu xuống Thủ Đức để gặp bà Huệ và cô Martine, rồi đưa luôn Martine về nơi ở riêng.
Còn tôi ở lại có nhiệm vụ gọi các vị trong Ban biên tập đến họp đột xuất ngay buổi chiều hôm đó.

CHIẾN DỊCH SĂN TÌM “CÔNG CHÚA THẬT”

Đó là sự khởi đầu việc đưa Martine Bokassa trở thành con gái chính thức của Tổng Thống nước Cộng Hòa Trung Phi.
Cũng cần nhắc lại, trước khi gia đình bà Nguyễn Thị Huệ mẹ ruột của Martine đến tòa báo Trắng Đen khiếu nại việc chính quyền đưa cô gái giả tên Ba-Xi đi Pháp, từ đó mới đưa qua Trung Phi. Các báo đều không biết có nguồn tin TT Bokassa gửi công hàm cho chính phủ Pháp và nhờ Tòa Đại Sứ Pháp ở VNCH cũng như chính quyền tìm giúp một đứa con. TT Bokassa cũng không rõ là trai hay gái, vi khi ông ta cùng quân đội viễn chinh Pháp thua trận Điện Biên Phủ phải rút quân về nước theo Hiệp định Gèneve 1954, đứa con của ông chưa ra đời – sau này chúng tôi chỉ biết công hàm trên chỉ ghi rất vắn tắt từ Bộ Ngoại Giao Pháp, không nói rõ thân thế của người vợ hay một địa danh nào TT Bokassa đã ở trước khi về nước.
Tr blogger 3Cho nên không biết từ đâu chính quyền Sài Gòn bấy giờ tìm thấy Ba-Xi con bà Thân ở xóm Gà (lúc đó còn thuộc tỉnh Gia Định), trạc độ tuổi 17 – 18. Các hồ sơ của Ba-Xi nhanh chóng được xác nhận gửi qua Pháp, và từ Bangui thủ đô nước CH Trung Phi, TT Bokassa hoan hỉ xác nhận Ba-Xi chính là đứa con rơi bị thất lạc của ông.
Bộ Ngoại Giao lúc đó được nước CH Trung Phi cám ơn, vì đã nhanh chóng trong việc giúp TT Bokassa tìm được con gái. Các báo loan tin này theo tài liệu của Bộ Ngoại Giao cung cấp và qua phương tiện của các hãng tin như VTX, Reuteur, AFP, AP…
Các báo đối lập chỉ đăng một mẫu nho nhỏ cho có tin tức, còn những báo như Trắng Đen, Tia Sáng, Thách Đố… chuyên khai thác các scandal, chuyện giật gân thì đăng tít từ 4 đến 5 cột báo, kèm theo hình ảnh bà Thân và cô “công chúa Ba-Xi”. Dân chúng cho rằng TT Bokassa thật là một người cha có trách nhiệm, tuy làm đến chức vị cao nhất nước nhưng vẫn không quên đứa con rơi của mình trên chiến trường Đông Dương, lúc Pháp còn coi Việt Nam như một thuộc địa.
(Dù rằng năm 1945 Việt Nam đã tuyên bố Độc Lập, nhưng sau đó người Pháp trở lại đánh chiếm, đưa Bảo Đại về làm Quốc Trưởng, rồi Việt Minh có cuộc kháng chiến 9 năm từ 1945-1954, lính Pháp mới chính thức ra khỏi đất nước từ ngày 20/7/1954, qua Hiệp Định chấm dứt chiến tranh Việt Nam tại Gèneve (Thụy Sĩ). Lúc đó Pháp chấp nhận đã thua tại mặt trận Điện Biên Phủ. Cũng từ năm 1954, nước Việt Nam tạm thời chia đôi, miền Bắc từ sông Bến Hải trở lên ải Nam Quan do Việt Minh cai quản sau đổi chính thể thành nước VNDCCH, còn miền Nam từ sông Bến Hải xuống đến mũi Cà Mau giao lại cho Quốc Trưởng Bảo Đại và Ngô Đình Diệm làm thủ tướng chính phủ nưóc VNCH).
Dân chúng cũng cho rằng Ba-Xi thật có phước, sau mười mấy năm đã không biết cha mình còn sống hay đã chết, từ cô bé lọ lem trở thành nàng công chúa của đất nước Trung Phi giàu có. Nhưng nhìn lên bản đồ thế giới lúc bấy giờ, không ai biết nước CH Trung Phi nằm ở đâu, mọi người suy đoán đây là một nước nằm gần Nam Phi cho nên xứ sở này có kim cương và đá quý.
9 Bokassa 11Chiều hôm đó Ban biên tập chúng tôi gồm có chủ nhiệm, ông Vị Thủy tổng thư ký, ông Tam Mộc (nguyên chủ nhiệm báo Buổi Sáng) cố vấn về các vấn đề quan yếu, luật sư Võ Quốc Thanh luật sư riêng của báo và hai thư ký tòa soạn là anh Thái Châu (tức nhà văn nhà thơ Phan Yến Linh) và tôi.
Mọi người mới mổ xẻ việc phát hiện Ba-xi là cô gái lai không phải là con ruột của TT Bokassa, mà chính là Martine con của bà Nguyễn Thị Huệ. Vì qua các hình ảnh và giấy tờ, cô gái mang tên Martine này có khả năng chính là con ruột của TT Bokassa.
Ông Tam Mộc liền phân tích vụ việc :
- Xét về mặt xã hội, việc một vị Tổng Thống ở một đất nước Phi Châu mới được Pháp trao trả độc lập, gửi thư qua nhờ tìm con; nói về mặt đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam, chính quyền đã mau chóng truy tìm ra gốc tích đứa con rơi của Tổng thống Bokassa là điểm đáng khen ngợi. Nhưng nay cô gái đưa qua Trung Phi lại không phải con ruột của ông ta theo như gia đình bà Huệ cho biết. Vậy chúng ta phải coi lại, lý do gì mà chính quyền không chịu điều tra thân thế của Ba-Xi cho thật rõ ràng mà mau chóng xác nhận như vậy. Tuy nhiên chính TT Bokassa cũng đã công nhận Ba-Xi là con gái ông ta. Điều đó hoàn toàn đúng theo thực tế, và nếu không có cô Martine này xuất hiện thì mọi việc sẽ không có gì đáng để đề cập đến.
Có người lên tiếng :
- Nếu cô Martine này đúng là con ruột của TT Bokassa thì sao ?
- Và nếu chúng ta đưa ra khai thác vụ việc này sẽ đụng chạm đến chính quyền và cả người Pháp, vì chính phủ Pháp đứng ra làm trung gian giữa hai nước CH Trung Phi và VNCH trong việc đi tìm con và nếu tìm được con cho TT Bokassa thì nước CH Trung Phi sẽ cám ơn nước Pháp. Xét về mặt thời sự, sở dĩ chính quyền làm gấp rút vụ Ba-Xi cũng có lý do, vì Pháp vừa đặt cấp lãnh sự tại Hà Nội, chính vì vậy nếu chính quyền không dành những cảm tình ngay với người Pháp, thì về mặt ngoại giao giữa Pháp với Hà Nội sẽ khắng khít hơn, còn chúng ta qua những khoản viện trợ sẽ gặp nhiều khó khăn.
Sau những phân tích đi sâu vào sự việc đưa Ba-Xi đi Bangui ngay là rất đúng, vậy chúng ta có nên khai thác vụ Martine hay không ?!
Ông chủ nhiệm và ông Vị Thủy tổng thư ký đều cho rằng :
9 Bokassa 2- Chúng ta mang nghiệp làm báo, dù vụ Martine có đụng chạm lớn có thể dẫn tới việc bị đóng cửa tờ báo, bị truy tố về tội phá rối an ninh trật tự xã hội, nhưng chúng ta phải can đảm khai thác. Tuy nhiên trong nghề nghiệp, chúng ta phải khéo léo khai thác tin tức nội vụ bằng những bài báo thăm dò trước, có nghĩa phải luồn lách, không thể đánh thẳng vào vụ Ba-Xi, đến khi điều tra đã đúng tới 80 – 90% thì mới phát pháo nhanh cho kịp thời.
Lúc đó ông chủ nhiệm tuyên bố, mọi phóng viên phải tập trung đi mọi hướng theo tài liệu để điều tra. Dàn phóng viên chủ lực lúc bấy giờ phải kể đến Phương Thảo, Lam Hồng Cúc, Việt Thu, Đoan Khánh, Phan Trần Mai, Lan Anh (ký giả nữ), Trường Nam, Thế Nguyễn, Anh Thu, Du Miên, Hữu Hào, Du Linh, Đức Dũng v.v…
Anh tổng thư ký tòa soạn mới phân công :
- Lam Hồng Cúc, Đoan Khánh là nữ thì đi gặp Martine khai thác về đời tư cô gái. Thế Nguyễn biết chụp ảnh chạy qua Tân Thuận Đông, Tân Quy Đông và Thủ Đức chụp nơi ở của bà Huệ và nơi Bokassa trước khi về nước đã từng sống chung với bà Huệ. Hữu Hào, Du Miên khai thác tin tức từ trong dân chúng sau khi bài báo ra mắt, xem thái độ người dân ra sao nếu quả thật Ba-Xi là giả, chú ý nhất người dân ở khu Xóm Gà Cây Quéo. Còn về đối ngoại sớm liên hệ với một số ký giả các hãng thông tấn thế giới (thường có mặt tại Câu Lạc Bộ Báo Chí góc đường Tự Do – Lê Lợi vào buổi chiều, nghe Bộ DVTTCH họp báo phổ biến tin tức trong ngày).
Sự bố trí ngay buổi đầu rất chặt chẽ, và mọi người đều được căn dặn không nói đến chỗ ở của Martine, vì sau vụ đưa tin sẽ không tránh được các báo khác đổ dồn khai thác, mật vụ cũng sẽ theo dõi từng diễn tiến các tin tức đăng tải trên báo.
9 Bokassa 6Ngay hôm sau báo Trắng Đen đưa lên trang nhất hàng tít chạy dài 8 cột với nội dung :
“Ba-Xi không phải con gái của TT Bokassa ?!”
- “Một bà mẹ chứng minh con gái mình mới là con ruột của Tổng thống Bokassa nước CH Trung Phi ?!”
Những dấu hỏi chấm than như thế chỉ thuộc phạm trù hiện còn nghi vấn chưa rõ ràng, nên báo đăng tải không sợ Bộ DVTTCH kêu đục bỏ, dù vậy các bài viết cũng không hề trắng trợn phủ nhận việc Ba-Xi không phải là con gái của TT Bokassa. Và vì quá gấp chúng tôi mới chỉ có 2 tấm ảnh mà ông Sáu đưa làm tài liệu, chúng tôi cho in hết. Bởi trong nghề làm báo, chúng tôi hiểu chỉ trong vòng 24 giờ sau thì tài liệu và hình ảnh sẽ thật dồi dào.

GÂY CHẤN ĐỘNG KHẮP THẾ GIỚI !

Quả nhiên vụ Ba-Xi – Martine Bokassa là trái bom đã nổ trên mặt báo, ngay hôm phát hành số đầu tiên về vụ này, giới bán báo cổ động không ngừng đòi tăng thêm số lượng. Số in tăng thêm 80.000 bản, tòa soạn phải huy động thêm máy để in cho đủ số giao cho các nhà phát hành, nhưng các nơi vẫn tới tấp gọi điện thoại xin thêm báo dù trễ đến 5 hay 6 giờ chiều (báo lúc đó phát hành vào lúc 1 giờ trưa đến hơn 2 giờ chiều là đã xong).
Trong ngày đầu tiên từ ban biên tập, trị sự đến anh em công nhân nhà in thật vất vã, và liên tiếp những ngày sau khi đưa vụ Martine Bokassa lên báo. Cái hậu của câu chuyện chưa biết sẽ ngã ngũ ra sao, nhưng trước mắt là báo bán chạy như tôm tươi, các báo khác lại ế ẩm, 9 Bokassa 1vì rằng giới bán báo lẻ chỉ giới thiệu vụ Ba-Xi và Martine Bokassa đến tay người đọc báo, làm ai cũng tỏ tính hiếu kỳ tò mò mua báo để tìm hiểu nội vụ.
Những tờ báo khác cũng bắt đầu nhập cuộc về vụ Martine Bokassa, nhưng không báo nào có thêm chi tiết hơn Trắng Đen, do mọi nguồn tin tức đã được tòa soạn bịt chặt các đầu mối. Các ký giả báo khác đi tìm bà Huệ hay Martine như đi tìm kim dưới biển, nên chỉ còn biết viết vuốt đuôi; sau đó các báo thấy rằng viết như thế chỉ có lợi cho báo Trắng Đen càng bán chạy thêm, vì vậy một số thôi không khai thác, một số chuyển qua “đối lập” với vụ án, chụp mũ tờ Trắng Đen đủ mọi thứ nón lên đầu Ban biên tập nào là VC nào là CIA.
Tuy vậy không có chiếc nón nào đội cho vừa vặn, vì sự phân tích của họ không logic khả dĩ khiến cho đọc giả tin cậy được. Sự thành công ngày đầu không làm vui những người trong ban biên tập, bởi nếu tin này trở thành sôi động như thế, ắt mọi việc sẽ không đơn thuần như dự tính.
Hai ngày sau điều ban biên tập đón chờ đã đến :
- Phóng viên tờ Time (tạp chí hàng đầu xuất bản tại Mỹ) đến xin mua bản quyền tấm hình chụp bà Huệ và Bokassa bên Tân Quy Đông mà tờ Trắng Đen đã đăng lên báo ngay hôm đầu tiên (luật báo chí Mỹ rất tôn trọng bản quyền, không thể chụp lại khai thác nếu chưa trả tiền bản quyền hay xin phép pháp nhân).
- Bộ Ngoại Giao gọi điện yêu cầu báo Trắng Đen cho ngưng khai thác loạt bài. Mặc dù báo chưa nói hẳn Ba-Xi là cô gái được một số người nhào nặn trở thành “con gái giả mạo” của TT Bokassa.
- Bộ DVTTCH cho biết, nếu loạt bài điều tra này xác thực thì tờ Trắng Đen cần đưa tài liệu chứng minh, hoặc kết thúc trong chiều hướng có lợi cho chính phủ !
Và còn nhiều cú điện thoại từ mọi thành phần trong xã hội, từ người dân lao động cho đến nhân sĩ trí thức, từ mọi giới kiến chính trị, có người ủng hộ có người phản ứng gay gắt, dù vậy vẫn không có một văn bản chính thức nào được gửi đến cho tờ Trắng Đen, chỉ thuộc “khẩu lệnh” bất thành văn.
9 Bokassa 15Chính những cú điện thoại ấy mà ban biên tập rất lo lắng cho số phận tờ báo, số bán hằng ngày cứ tăng từ 100.000 tờ/ngày đã vượt lên 160.000 tờ/ngày rồi trên 200.000 tờ/ngày, người làm báo ở Sài Gòn lúc đó nằm mơ cũng không thấy nổi số lượng in ấn này, và số lượng vẫn tiếp tục có chiều hướng gia tăng.
Nếu lo sợ bị đóng cửa báo như lời khuyến cáo bằng “khẩu lệnh” từ Bộ Ngoại Giao hay Bộ DVTTCH phải tạm ngưng loạt bài này, tuy nhiên nếu ngưng thì tờ báo mất uy tín, vốn dĩ đọc giả đã từng đánh giá Trắng Đen là báo lá cải chuyên khai thác các vụ án “Tình, Tiền, Tù, Tội, ma quỷ hoang đường, đời tư các nhân vật nổi tiếng” v.v… báo sẽ bị bỏ rơi với lý do đọc giả cho rằng vụ Martine Bokassa chỉ là tin scandal nhằm lừa bịp để bán báo.
Chính vì thế ban biên tập quyết định, đã cưỡi cọp thì không thể cho ngưng loạt bài này được, bởi có nhiều nguồn tài liệu cho thấy Martine Bokassa mới chính là con đẻ của TT Bokassa.

TÌM RA SỰ THẬT !

Nữ phóng viên Lam Hồng Cúc đã cải dạng dân thường với áo quần bà ba đen, chân đi guốc đầu đội nón lá, tay cầm túi lát đi vào vùng xôi đậu ở tận Rừng Sát (nay là huyện Cần Giờ); đến tận xã nơi bà Huệ sanh ra Martine (vùng xôi đậu tức  nơi ban ngày lính Quốc Gia kiểm soát còn về đêm do du kích tràn về tuyên truyền, khác với vùng trắng là nơi được oanh kích tự do), tìm thấy sổ hộ tịch của những năm 1955 -1956 có giấy chứng sanh của bà Huệ ghi cả tên cha là ông G. Bokassa
Còn tờ giấy khai sanh đang sử dụng chỉ là Giấy Thế Vì Khai Sanh do bà Huệ đã làm mất bản chính, mà đường về Rừng Sát lại khó khăn, cho nên bà Huệ phải khai lại Giấy Khai Sanh cho Martine mà bỏ tên cha. Có lẽ bà Huệ cho rằng Bokassa chỉ như những tên lính Lê Dương khác, đi tìm gái để thỏa mãn thú vui xác thịt, khi về nước là chúng̣ bỏ lại tất cả không một chút luyến tiếc dù đó là giọt máu của chính mình. Nên con lai ở Sài Gòn hay ở các tỉnh thành có rất nhiều, có ai được cha chúng qua Việt Nam tìm kiếm ?!.
Lam Hồng Cúc lấy được cả giấy chứng sanh được dán trong sổ hộ tịch đem về. Cả tòa soạn rất vui mừng liền lên phương án : Chụp lại bản chánh và cho rửa nhiều tấm, một gửi cho Bộ Ngoại Giao nhờ qua hệ thống hàng dọc tới tay TT Bokassa, chứng minh Martine mới là đứa con ruột thịt của ông ta.
Tuy đã có chứng cớ chứng minh nhưng ban biên tập vẫn sợ các ông bên Bộ Ngoại Giao có thể vì một lý do nào đó không chuyển đi; đã đề phòng nên còn gửi thêm một bộ khác qua đường hàng không đến Pháp cho đặc phái viên Trắng Đen đang thường trú tại đây đưa đến Bộ Ngoại Giao Pháp, giao tận tay và nhờ chuyển đến Tổng Thống nước Cộng Hòa Trung Phi Bokassa thật khẩn. Ngoài hai nơi, tòa soạn còn gửi đến Tòa Đại Sứ Pháp ở Sài Gòn nhờ chuyển. Các tài liệu đều kèm với hình bà Huệ và TT Bokassa, hình của Martine. Tờ báo công bố bản chứng sanh của Martine và cho đăng những cú điện thoại từ các Bộ, và hứa sẽ chịu trách nhiệm trước loạt bài điều tra về vụ Martine Bokassa, nếu TT Bokassa phủ nhận bà Huệ và Martine là vợ con ông ta.
9 Bokassa 5Coi như đã tạm yên với chính quyền, nhưng có dư luận cho rằng tờ Trắng Đen được Mỹ nhúng tay (có nghĩa được CIA hỗ trợ) trong việc mở rộng cuộc điều tra vụ này. Bởi mọi người không tin rằng một báo lá cải như tờ Trắng Đen lại dám làm một loạt bài “động trời” va chạm đến chính quyền và cả Bộ Ngoại Giao Pháp.
Đọc giả cũng có những phân tích thời cuộc rất logic, cho rằng người Mỹ đang muốn tranh giành ảnh hưởng về ngoại giao với các nước Phi Châu mà trước đây đều là thuộc địa của Pháp, nay các nước này đã độc lập nhưng truyền thống thân Pháp cho nên các chánh phủ ở đây vẫn còn đặt nặng tình cảm về chính trị, kinh tế, xã hội. Tờ Trắng Đen đưa vụ Martine Bokassa ra ánh sáng là làm giảm uy tín của Pháp, lý do người Pháp đã đưa đi một “nàng công chúa giả mạo” giao cho TT Bokassa.
Tôi là người biết rõ nguồn gốc vụ Martine Bokassa và nằm trong hệ thống chỉ đạo các phóng viên đi các hướng điều tra, đó là cả một tập thể năng động, mang tính chuyên nghiệp, không quản nguy hiểm và luôn luôn bị đe dọa nhưng vẫn xuất sắc hoàn thành nhiệm vụ của một người ký giả phóng viên. Dù rằng tờ báo luôn được mọi người gọi bằng “báo lá cải”.
Vụ Martine tuy nhỏ nhưng tính cách của nó ở hậu trường chính trị lại thật lớn. Sự va chạm với Bộ Ngoại Giao đã đến giai đoạn chính thức gửi “tối hậu thư” chứ không còn bằng “khẩu lệnh”; và Bộ DVTTCH cho tờ Trắng Đen trong 3 ngày phải có xác nhận từ phía CH Trung Phi nếu không tờ báo phải bị đóng cửa. Do Bộ DVTTCH lúc đó không thể ra quyết định đóng cửa báo, nếu báo không vi phạm tội “Phản Quốc” hay có bằng chứng là “Cộng Sản”, cùng quyền thứ tư của người làm báo, viết báo được Hiến Pháp công nhận. Nên nếu sau thời gian của “tối hậu thư” thì mới có cơ sở ra quyết định và chụp cho tờ báo một cái nón  nào đó đội cho vừa vặn.
Ban biên tập cũng không còn gì hơn là mỗi ngày vài bận gọi điện thoại qua Pháp hỏi thăm tin tức, đặc phái viên tại Pháp cũng rất nhiệt tình đi lại Bộ Ngoại Giao Pháp thu lượm tin từng giờ. Tin tức được báo về là thư đã đến Sứ quán Pháp tại CH Trung Phi, và đã chuyển tới dinh của TT Bokassa.
Sự kiện đó làm mọi người đều hồi hộp, vừa mừng vừa lo, mừng vì thư đã tới tay TT Bokassa lo vì không biết TT Bokassa có công nhận Martine là con đẻ của ông hay không ?!
9 Bokassa 10Trong thời gian chờ đợi, chúng tôi không thể đả kích thêm vụ Ba-Xi được đưa qua Trung Phi, toàn bộ tờ Trắng Đen chỉ khai thác những đề tài về đời tư của Martine, ký sự chuyện tình giữa bà Huệ với Bokassa, hay những cuộc phỏng vấn các Dân Biểu, Thượng Nghị Sĩ về loạt bài Martine Bokassa. Báo luôn luôn được in trước 24 giờ, vì tin tức lúc bấy giờ chỉ còn là thứ yếu trong tờ báo, nếu có tin chiến sự hay sự cố quan trọng nào thì chúng tôi đưa vào trang 3 được in từ sáng sớm cho kịp số lượng phát hành trong ngày.
Với số lượng được các nơi đăng ký nhận bán đã trên 200.000 số mỗi ngày gồm 12 trang, các loại quảng cáo của các Cty Quảng Cáo từ các báo đã tập trung về Trắng Đen gần hết, nhưng do số trang có hạn, đành nhận đó nhưng theo thứ tự thì cả tuần mới đến thứ tự.
NGHỀ LÀM BÁO
Ở đây tôi cũng xin nói qua, lúc đó báo chí được trợ cấp bông giấy, nếu tờ báo nào được phép xuất bản thì được trợ cấp giá mua giấy in báo dưới chính thức, báo bán chạy được mua 50.000 tờ gồm 8 trang/ ngày, báo nào bán không chạy thì từ 10 đến 20.000 tờ/8 trang ngày. Báo càng in nhiều sẽ càng lỗ, do số lượng in nhiều hơn số bông giấy được cấp vì thế phải mua giấy chênh lệch qua giá chợ đen cao hơn chính thức, mà giá bán báo được Hội Chủ Báo khống chế để giảm mức phá giá cạnh tranh hay tăng giá làm thiệt hại người đọc.
Lúc ấy Bộ Kinh Tế không định giá bán cho báo chí, mà chỉ định giá giấy nội địa của Cogido, Tân Mai hay bằng đường nhập cảng, các báo không thể tăng trang mà chỉ tăng thêm quảng cáo bớt đi bài vở để tự bù lỗ. Nhiều báo xin xuất bản, nhưng thực tế in một ngày chỉ chừng vài ba ngàn tờ cho lấy có, số bông giấy còn thừa thì đem bán cho lái giấy để lấy tiền trang trải chi phí lẫn mưu sinh. Bấy giờ có nhật báo ra đời mà tòa soạn không có quá từ 3 đến 5 người làm việc, họ không cần phóng viên, ký giả vì cứ mua các bản tin tại VTX và các tin xe cán chó (từ thành đến tỉnh) để khai thác, Tr Blogger 1còn tiểu thuyết thì mua của các nhà văn thất nghiệp với nhuận bút 5.000 hay 10.000đ/tháng (nên biết vàng 24K lúc đó mới chỉ hơn 30.000đ/lượng)
Khi thời hạn của tối hậu thư gần kề, tòa soạn nhận được tin từ Pháp gọi về thông báo đã có công hàm của Bộ Ngoại Giao Pháp gửi qua Việt Nam về vụ Martine Bokassa, có thể là tin vui.
Hai chữ “có thể” vẫn không làm yên tâm ban biên tập, vì có ai ngoài người trong công quyền được rõ nội dung; nhưng đặc phái viên đã báo là tin vui cho nên cũng tở mở trong lòng và chờ đợi. Các phóng viên túc trực tại Bộ Ngoại Giao để nhận thư phúc đáp từ Trung Phi. Nhưng điều bất ngờ nhất lại là bản điện tín từ bưu điện đưa tới, toàn bộ là tiếng Pháp, cũng vào giờ tòa soạn chỉ còn mình tôi ở lại trực tin, thấy ghi nơi gửi là Bangui, tôi còn không biết từ đâu đến, vì thật sự lúc đó chưa ai biết CH Trung Phi trên bản đồ nằm ở đâu, Bangui tên tỉnh thành của quốc gia nào của Châu Phi, hay Châu Âu ?
Đến khi đọc rõ nội dung mới biết đây là điện tín của TT Bokassa gửi đến, cho biết ông nhận người mà bà Huệ đứng chụp chung chính là ông. Như thế là hoàn thành công việc điều tra, TT Bokassa đã xác nhận bà Huệ chính là vợ ông ta trước đấy gần 20 năm. Tôi gọi điện thông báo ngay cho ông chủ nhiệm biết, và ông quá mừng rỡ với tờ điện tín ấy, còn dặn tôi gọi thu quân khỏi Bộ Ngoại Giao, Tòa Đại Sứ Pháp cho về nghỉ dưỡng sức.
Từ Lam Hồng Cúc đến Thế Nguyễn, Vi Thuấn, Minh Hoàng… đã quá vất vả với Martine Bokassa gần nửa tháng qua, nay coi như hoàn thành nhiêm vụ. (Nhân đây xin nói, nữ ký giả Lam Hồng Cúc đã qua đời vào năm 1974 tại Buôn Ma Thuộc trong một chuyến săn tin).
9 Bokassa 8Báo Trắng Đen như được hồi sinh, chúng tôi được chính TT Bokassa đánh bức điện tín xác nhận, dù bức điện chưa thể coi mang tính pháp lý mà “tối hậu thư” đưa ra, xét về thực tế nó đã chứng minh vụ việc bà Thân và Ba-Xi ở Xóm Gà Gia Định chỉ là “hàng giả mạo” của Bộ Ngoại Giao, còn sự phát hiện bà Huệ với Martine mới chính vợ con của TT Bokassa từ tờ Trắng Đen mới đúng hàng thật.
Việc chờ đợi công văn chính thức từ chính quyền gửi đến không còn mơ hồ gì nữa, chỉ còn thời gian đến nhanh hoặc chậm. Chúng tôi vẫn chờ Bộ Ngoại Giao, Tòa Đại Sứ Pháp hay Bộ DVTTCH một trong ba nơi chuyển đến. Còn nhiệm vụ của người làm báo vẫn tiếp tục phát pháo, do nhân chứng vật chứng đã có đủ trong tay, chúng tôi bắt đầu tấn công Bộ Ngoại Giao trong việc đưa Ba-Xi cô gái giả đi Bangui thủ đô nước CH Trung Phi, nhưng ngay sau đó bên Trung Ương Tình Báo gọi điện cho biết đừng nên khai thác vụ Ba-Xi, còn về Martine Bokassa thì không sao. Sau ngày chúng tôi có được bức điện tín của TT Bokassa, bên Bộ Ngoại Giao mới gửi văn thư chính thức thông báo, với đại ý :
- TT Bokassa hoàn toàn nhìn nhận bà Huệ chính là người vợ của ông khi còn là Trung sĩ trong quân đội Lê Dương đang tác chiến tại Việt Nam. TT Bokassa nhìn nhận Martine là con gái ruột của ông.
- TT Bokassa mong mỏi được gặp vợ và con tại Bangui trong một ngày gần nhất. Mong mỏi báo Trắng Đen cử người đưa vợ con ông đến thủ đô Bangui.
Ngoài ra trong văn thư không hề xin lỗi về việc đưa lầm Ba-Xi hay đe dọa trừng phạt tờ báo. Chúng tôi coi văn thư đó như sự công nhận của chính quyền trước vụ Martine Bokassa. Cho nên tiếp tục khai thác đề tài về Martine Bokassa sẽ đi Bangui nhìn cha ruột.
9 Bokassa 4Có những lúc bí đề tài lại làm thêm loạt bài với một dấu hỏi khác :
- Có đúng bà Huệ là vợ của TT Bokassa, và Martine thuộc dòng máu của ông hay không ?
Với đề tài ấy tờ báo lại sôi động lên tiếp tục bán chạy. Dù biết rằng Martine chính là con ruột của TT Bokassa, nhưng tờ Trắng Đen thường được mọi người ví von là báo lá cải rồi, nên làm thêm “sì-căn-đan” là lẽ tự nhiên để bán báo. Bởi “phi thương bất phú” đó là châm ngôn bất di bất dịch của người làm kinh doanh chuyên nghiệp, không bỏ lỡ thời cơ khi cơ hội đang sẵn có trong tay.
Tuy nhiên nội dung bài báo chỉ lập luận, trong một xã hội đang bị lệ̣ thuộc dưới tay thực dân Pháp, lúc bà Huệ còn là một cô gái xinh đẹp ở vùng Tân Thuận Nhà Bè, phải chăng bà chỉ chung thủy với một người lính Pháp tức ông Bokassa hay còn nhiều người nữa, để rồi sau đó xác nhận giọt máu rơi của mình là con của Trung sĩ Bokassa ? !
Ban biên tập tuy lập luận như thế nhưng bài viết lại luôn ca tụng bà Huệ một mực sống thủy chung với ông Bokassa theo truyền thống của người Á Đông về mặt “tam tòng tứ đức”, chỉ mãi đến sau này bà chờ đợi ông Bokassa qua Việt Nam bảo lãnh vợ con theo chồng về nước nhưng vẫn bặt vô âm tín, bà mới tái giá về ở với người chồng sau ở tận Thủ Đức.
Để thêm chắc chắn, chúng tôi còn lấy mẫu máu của Martine đi xét nghiệm phân chất trước, để phòng khi đến Bangui nếu thật sự cần thiết sẽ đem ra đối chứng giữa máu của hai cha con.
Còn về chiến lược của tờ báo làm cho đọc giả phải luôn theo dõi loạt bài, chúng tôi cố gắng đi tìm tài liệu về nước CH Trung Phi khắp nhà sách, thư viện cũng như nhờ Bộ Ngoại Giao, Tòa Đại Sứ Pháp cung cấp. Thật tình mà nói lúc bấy giờ nước CH Trung Phi quá nhỏ bé, các bản đồ in trong nước đều không ghi nhận vì mới được Pháp trao trả độc lập năm 1960, cũng như nước CH Trung Phi không có mặt nào nổi bật với thế giới. Việc tìm tài liệu về đất nước này thật sự hết sức khó khăn; bên Bộ Ngoại Giao hay Tòa Đại Sứ phải điện qua Pháp xin cung cấp các tài liệu cần thiết.
Tôi lại chợt nghĩ đến việc tìm tài liệu qua các hãng hàng không, vì các hãng máy bay nối liền từ Sài Gòn đi đến khắp nơi trên thế giới sẽ có những tập sách, hay tờ bướm quảng cáo về các đường bay. Quả thật như dự đoán, hãng máy bay Air France có những từ bướm (brochure) quảng cáo các đường bay, nếu từ sân bay Tân Sơn Nhất đi Bangui, chuyến bay sẽ đi vòng qua Calcutta (Ấn Độ) rồi đổi chuyến bay tới Nairobi (Kenya), từ đó chuyển phi cơ đến Bangui. 9 Bokassa 14Lý do sân bay Bangui không có đường băng dành cho phản lực cơ. Còn về địa lý, văn hóa, thương mại, xã hội nước CH Trung Phi không có một chút thông tin nào.
Nhưng với nghề làm báo luôn như một thám tử phải biết suy luận, nhận xét và phân tích, nên chuyện khó cũng trở nên dễ dàng. Trong khi chờ đợi các tài liệu từ Bộ Ngoại Giao cung cấp, chúng tôi đã có những loạt bài giới thiệu về đất nước của TT Bokassa, dĩ nhiên chỉ những bài và sơ đồ vẽ đường bay sẽ đi qua, những dữ liệu về tài nguyên của Phi Châu như kim cương, hột xoàn v.v… do tâm lý đọc giả chỉ cần được báo chí cung cấp và gợi lên những hình ảnh mà họ đang chú ý là có thể “ăn khách” có đông người đọc, dù nội dung rổng tuếch !
BÀN GIAO CÔNG CHÚA THẬT
Cuối cùng mọi người cũng đặt chân lên đất nước CH Trung Phi, sau nhiều lần thay đổi chuyến bay nếu mua vé đi thẳng từ Sài Gòn đến Bangui đúng như lịch trình dự kiến đã nói, nhưng đoàn người của báo Trắng Đen gồm ông bà chủ nhiệm, mẹ con bà Huệ, cùng đại diện cao cấp của chính quyền đến nước CH Trung Phi theo đường ngoại giao.9 Bokassa 9 Vì thế đường bay phải ghé qua Paris, đón tùy viên văn hóa sứ quán cùng tháp tùng, vị này trước thay mặt chính quyền bàn giao Martine, sau làm thông dịch viên.
Từ Paris đoàn người được đưa đến Brazzaville thủ đô nước Congo, sau đó đi máy bay cánh quạt đến Bangui.
Nước CH Trung Phi (Central AfricanRepublic) rộng 662.984 km2, nhưng dân số chỉ hơn một triệu dân, còn ở thủ đô Bangui có khoảng 100.000 dân (số liệu 1995 : CH Trung Phi có khoảng 2,5 triệu dân, Bangui có hơn 300.000 dân). Phía Bắc giáp Chad và Sudan, phía Nam giáp Zaire và Congo, phía Tây giáp Cameroon, phía Đông giáp miền nam Sudan.
TT Bokassa lập Hiến pháp với chức vụ “Tổng thống muôn năm”, khi nào vị Tổng thống chết đi Quốc Hội mới bầu người mới lên lãnh đạo đất nước. Còn chính phủ hầu như thay đổi nhân sự hàng ngày ! Tùy theo sự vui buồn từ TT Bokassa.
Tôi được nghe kể lại, khi đoàn tới dinh TT Bokassa, một toán lính ra dàn chào không đúng nghi thức đã bị TT Bokassa ra lệnh thay ngay Bộ trưởng Bộ Lễ Tân. Khi đoàn đi tham quan tới đâu cũng được giới thiệu đó là tài sản của TT Bokassa ?! Còn về quân đội, ông nắm hết các quyền hành và chỉ định thân nhân vào các chức vụ chỉ huy trưởng.
Với chính sách cai trị như thế không khác gì thời phong kiến vua chúa, TT Bokassa quả là một Tổng thống độc tài gia đình trị. Nuớc CH Trung Phi không có khoáng sản quý như Nam Phi, 9 Bokassa 11tức kim cương đá quý, mà chỉ chủ yếu trồng cây cà phê, chuối, tiêu xuất khẩu.
Trở lại vụ giao con cho TT Bokassa, ông rất hoan hỉ đón nhận đứa con ruột thịt của mình, còn Ba-Xi ông tuyên bố nhận làm con nuôi mà không trao trả lại cho chính quyền Sài Gòn (vì phép xã giao xen lẫn chính trị). TT Bokassa cũng mời bà Huệ ở lại với ông và con, nhưng bà Huệ từ chối vì đã có chồng con riêng ở Sài Gòn. Mọi việc diễn ra tốt đẹp khi phái đoàn giao xong Martine cho TT Bokassa rồi chia tay với đất nước Trung Phi.
Theo tôi được biết, bà Huệ hàng tháng đều ra Ngân Hàng Pháp Á tại Sài Gòn lãnh tiền trợ cấp là 200.000đ của TT Bokassa gửi (số tiền này nếu quy ra vàng vào thời gian năm 1973, cũng khoảng hơn 5 lượng/tháng).
Sau năm 1975 các báo tại Sài Gòn thường loan tin đảo chính tại nước CH Trung Phi đã lật đổ “Hoàng đế” Bokassa (lúc này Bokassa bỏ chức vị Tổng thống muôn năm mà tự xưng Hoàng Đế), sau đó Bokassa bị kết án tử hình. Người làm đảo chánh Bokassa chẳng ai khác hơn là con rể của ông – người lấy Ba-Xi làm vợ – bở́i chỉ có những thân nhân tin cẩn, Bokassa mới dám giao phó binh quyền vào tay. Còn chồng Martine sau khi Bokassa bị lật đổ đã bị chính phủ Trung Phi cho giải ngũ. Đó là câu chuyện về hai “cô bé lọ lem” thời hiện đại, mà tôi góp một phần trong phá án, nhằm kể lại câu chuyện của hơn 40 năm trước đây, với một thời gian dài sôi nổi trên mặt báo Trắng Đen và với người dân miền Nam nói chung và người Sài Gòn lúc bấy giờ.

SƠ LƯỢC VỀ TT BOKASSA9 Bokassa 3

VÀ NƯỚC CH TRUNG PHI
Nước CH Trung Phi được Pháp trao trả độc lập vào ngày 13/8/1960, với diện tích 662.984 km2, thủ đô là Bangui. Toàn bộ dân số nước CH Trung Phi vào khoảng 3 triệu người (tài liệu năm 2000).
Tài nguyên thiên nhiên gồm các mỏ quặng chưa khai thác do chưa đủ tuổi (gồm quặng kim cương, coban, sắt…). Cho nên nền kinh tế chủ yếu trông chờ vào các vụ thu hoạch chuối và cà phê.
- Từ năm 1960, từ người Pháp bàn giao cho nhà chính trị tên D. Đacô đứng lên lãnh đạo nước CH Trung Phi, nước này soạn Hiến pháp theo chế độ Cộng Hòa, đứng đầu nhà nước với chức danh Tổng thống .
- Năm 1966, trung tá Jean Bedel Bokassa cầm đầu một binh đoàn lật đổ TT D. Đacô, rồi Bokassa tự phong Đại tá, tiếp đến là Đại tướng chỉ trong vòng mấy ngày đầu nắm chính quyền. Khi toàn bộ nước CH Trung Phi đã nằm trong tay tướng Bokassa, ông lại tự phong làm chủ tịch Hội Đồng Cách Mạng, Tổng Tư lệnh Quân Đội, xóa bỏ Hiến pháp để quân đội hoàn toàn nắm quyền hành cai trị đất nước. Coi như toàn bộ quyền bính đều nằm trong tay Bokassa.
Jean Bedel Bokassa đi lính cho Pháp từ năm 18 tuổi, đất nước Trung Phi lúc đó còn nằm trong thuộc địa của Pháp. Trong thời gian này đang xảy ra Chiến tranh Thế giới lần thứ II. Bokassa theo đội quân Lê Dương có mặt tại nhiều nước như Ma-rốc, Algierie rồi vào năm 1953 có mặt ở Việt Nam. Tại Việt Nam, Bokassa mang lon Trung sĩ nhất đóng quân tại Chánh Hưng Sài Gòn (Quận 8 bây giờ) – vùng đất của quân đội Bình Xuyên – Năm Lửa.
9 Bokassa 12Sau khi quân Pháp thất trận tại Điện Biên Phủ, ký kết Hiệp định đình chiến ngày 20/7/1954, cam kết rút hết quân đội về Pháp. J.B. Bokassa lúc này đã lên cấp Thượng sĩ nhất cũng phải lên tàu trở về chính quốc. Trong thời gian đóng quân ở Chánh Hưng, Bokassa quen được bà Nguyễn Thị Huệ, chung sống như vợ chồng tại Tân Thuận Đông, Nhà Bè. Khi ông về nước thì bà Huệ đang mang thai Martine.
- Năm 1968, dưới áp lực quốc tế, Bokassa tổ chức bầu cử Tổng thống, ông trở thành vị Tổng thống thứ hai của nuớc CH Trung Phi.
- Năm 1972, TT Bokassa sửa đổi lại Hiến Pháp cho quyền được làm “Tổng thống muôn năm”. Cũng trong thời gian 1972, TT Bokassa nhờ Bộ Ngoại Giao Pháp tìm kiếm dùm ông đứa con rơi đang thất lạc tại Sài Gòn vào những năm 1954 – 1955. Sự kiện TT Bokassa tìm con như thế nào, các bạn đọc đã rõ.
- Cuối năm 1976, TT Bokassa không muốn làm Tổng Thống muôn năm, đã tuyên bố giải tán chế độ Cộng Hòa để lậ̣p nên Vương quốc Trung Phi, lấy chế độ Quân chủ lập hiến cai trị. J.B Bokassa tự xưng mình là Hoàng đế Bokassa đệ nhất.
- Năm 1979, Hoàng đế Bokassa Đệ nhất bị chính con rể hạ bệ (tức phò mã Đại úy chồng của Ba-Xi), ông ta phải bôn tẩu ra nước ngoài lánh nạn.
9 Bokassa 137 năm sau, Bokassa trở về CH Trung Phi, khi chồng của Ba-Xi cũng đã bị phe quân đội đối lập đảo chánh nắm quyền. Nhưng người dân ở đất nước Trung Phi quá chán ghét cảnh độc tài của Bokassa thời ông còn nắm quyền lực, nên giới cầm quyền lúc đó đã bắt giam Bokassa và chờ ngày ra tòa xét xử các tội trạng do ông gây ra khi còn nắm quyền cai trị đất nước.
- Năm 1995 J.B. Bokassa lãnh án tử hình và chưa kịp thụ án thì năm 1996, Bokassa qua đời ngay trong nhà giam. Khi chết, Bokassa để lại 8 người vợ và 54 người con.
- Martine Bokassa cũng lấy chồng một sĩ quan trong quân đội CH Trung Phi, khi chồng Ba-Xi cùng nhóm quân đội lật đổ Hoàng đế Bokassa Đệ nhất, Martine cùng chồng qua Pháp sống lưu vong đến ngày nay.
THÊM NHỮNG TIN TỨC MỚI VỀ BAXI & MARTINE BOKASSA
- Martine Bokasa hiện đang ở Paris với tên Martine Kota, có 2 người con với Bác sĩ Jean – Bruno Deveavode. Người con trai đầu tiên của 2 người tên Jean – Barthe’le’my Bokassa (thuờng gọi JB). Martine giả tức Ba Xi có một người con với sĩ quan tên Fidel Obrou.
9 Bokassa 7- Năm 1980 Fidel Obrou bị giết sau một cuộc đảo chính mới, số phận trớ trêu, đồng thời lúc đó Ba Xi sinh một đứa con trai ở Bangui. Bác sĩ JB lại là người giết đứa con trai mới sinh của Ba Xi bằng cách chích thuốc theo lệnh của nhóm đảo chánh. Sau một năm Fidel Obrou chết, Ba Xi cũng biến mất trên đường đến phi trường định trở về Việt Nam, bị hai cận vệ của TT Bokassa bóp cổ đến chết và vất xác dọc theo đường.
- Trong cuộc xử TT Bokassa 1987, TT Bokassa chối tội ông không ra lệnh giết đứa con gái nuôi và đứa cháu trai vừa mới sinh. Sau đảo chính lật đỗ TT Bokassa năm 1979, Martine Kota cùng JB, hai em trai và em gái thoát được sang Pháp.
- Trong khi ở Pháp, Kota và các con cùng mẹ là bà Nguyễn Thị Huệ sống cuộc sống hết sức khác nhau. Kota hiện nay làm chủ hai nhà ăn Viet Nam ở Pháp, một tiệm ở trên đảo Corsica. Phần JB thì rất gần với cuộc sống Việt Nam, JB nói được tiếng Việt và Pháp với mẹ Kota, và không bao giờ nói tiếng Trung Phi là tiếng Sango. Tên của em gái JB là Princess Marie – Jeanne Bokassa rất hơi lai người Việt. Ở Pháp họ sống trong lâu đài Hardricourt và JB có viết một cuốn sách về cha mình “Saga Bokassa un temoigage poignant un eclairage inedit”. (tin này do NGUOI QUAN MOT cung cấp)
NGUYỄN VIỆT
0

THÁNG TƯ, NÓI CHUYỆN KẺ THUA NGƯỜI THẮNG



Thật ra chẳng ai muốn mất thời giờ để đối thoại với kẻ thắng, là đảng Việt gian cộng sản và đám bồi bút của chúng làm gì. Lý do đơn giản, cộng sản xứ nào, ở đâu cũng thuộc thành phần bịp bợm, ngoan cố và tráo trở. Đối với Việt Nam, chúng còn thêm cái bản tính cao ngạo của hạng người đã ít học lại thiếu văn hóa, thì chẳng cần gì phải mất công nói chuyện với chúng !


Bài góp ý nầy có ba mục đích. Một, nhằm vạch trần bộ mặt thật của kẻ thắng để gởi đến các bạn trẻ sinh ra cũng như trưởng thành sau năm 1975. Hai, thách thức đối thoại với những người lúc nào cũng lớn tiếng bênh vực chế độ cộng sản Việt Nam. Ba, để tát vào mặt những ai mà mãi đến giờ nầy vẫn còn cố tình ca tụng đảng cướp cộng sản. Chiến thắng ‘thần thánh’ và ‘vinh quang’ của cộng sản chỉ là một trò lường gạt mà chúng đã âm mưu tráo trở dưới chiêu bài ‘giải phóng’ cũng như ‘thống nhất đất nước’ ! 


Để mở đầu, tôi đồng ý cộng sản miền Bắc đã thắng vài trận lớn trước ngày chúng công khai xua quân vào chiếm Việt Nam Cộng Hòa. Đó là hai trận mà quân cộng sản Bắc Việt đã dứt điểm Điện Biên Phủ, một vị trí quan trọng, xem như thành trì cuối cùng của quân đội Pháp trên đất Việt Nam. Và tại Khe Sanh, lính chính quy cộng sản đã tràn ngập vị trí phòng thủ chiến lược của quân đội Mỹ, nơi bảo vệ tuyến đầu Việt Nam Cộng Hòa và cũng là nút chận cửa ngõ xâm nhập miền Nam qua đường mòn HCM. Nhưng theo hồi ký do các tư lệnh bộ đội miền Bắc viết cũng như huênh hoang của các quản giáo trại tù thì họ đã xử dụng chiến thuật thí quân ồ ạt để đạt cho bằng được thắng lợi theo lệnh của già Hồ. Trong hai trận Điện Biên Phủ và Khe Sanh, mỗi nơi cộng sản đã thí trên một trăm ngàn trẻ em vị thành niên bằng những chiến thuật biển người. Điều nầy chứng tỏ chế độ Hà Nội không bao giờ xem trọng sanh mạng con người mà cộng sản chỉ biết dùng xương máu người dân miền Bắc làm vật hy sinh để đạt mục đích xâm chiếm miền Nam. 


Vậy thì hai chiến thắng Điện Biên Phủ và Khe Sanh không có gì gọi là vinh quang và thần thánh, mà đây chính là những lần thí quân tàn nhẫn vô nhân đạo (phải đánh cho đến giọt máu cuối cùng - lời của già Hồ) chưa bao giờ thấy trong lịch sử chiến tranh của nhân loại. Xin nói rõ trong kế hoạch công đồn, ngoài việc quân cộng sản cắt bớt khẩu phần ăn của người lính (tiết lộ của quản giáo trong trại cải tạo KàTum, Long Khánh) còn dùng chiến thuật biển người xua quân lính dưới quyền vượt qua hàng rào phòng thủ bằng lựu đạn, mìn và kẽm gai, là nơi bãi tác xạ không hạn chế dành cho pháo binh và vùng dội bom tự do của Không Quân Việt Mỹ. Ngoài ra, chỉ huy chiến trường còn xiềng chân xạ thủ vào súng cộng đồng cũng như các cổ đại pháo, cột chân tài xế vào xe tải, xe tăng…để không còn một ai có thể thối lui hoặc thoát chạy. Đây là một hành động độc ác mà cộng sản đã xử dụng lính thuộc cấp của họ còn tàn nhẫn hơn đối với súc vật như thế giới đã thấy qua các trận chiến đối đầu với Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa và Đồng Minh trước đây. Người bộ đội Bắc Việt chỉ còn đường độc nhất. Một là chịu chết đói. Hai là muốn ăn thì phải tiến lên chọc thủng phòng tuyến các đơn vị phòng thủ Pháp, Mỹ và Việt Nam để kiếm thực phẩm bỏ vào bao tử ! 


Tại sao cộng sản thắng hai trận nầy ? Theo binh pháp, trên một chiến trường cố định, nếu bên nào đông quân, xử dụng thế công với chiến thuật thí quân liên tục, không hạn chế, không tính toán…thì chắc chắn cuối cùng họ sẽ thắng bên chống đở đang ở trong thế thủ. 


Đến năm 1975, khi cộng quân vào chiếm miền Nam, lính chính quy đã tiến quân ồ ạt, nhanh chóng và đi như thế chẻ tre, nhưng cũng chẳng vinh quang và thần thánh gì như chúng thường huênh hoang qua sách báo ! Từ Quảng Trị đến Nhatrang, bộ đội Bắc Việt tiến vào Nam trong cảnh nhà không đồng trống, trong lúc Quân Đội miền Nam đã được lệnh di tản vào Nam để phối trí lại tại Vùng III và vùng IV Chiến thuật. Đoàn quân cướp nước xuôi Nam dễ dàng trên quốc lộ 1, nhưng khi đến đèo Rù Rì (Nhatrang Khánh Hòa) thì khựng lại vì e ngại đàng sau đèo là cái bẫy của Quân Đội VNCH. Bộ đội miền Bắc án binh bất động đến gần hai ngày. Sau đó một ‘phái đoàn’ của Nhatrang ra tận nơi để thông báo rằng thành phố đã mở cửa chờ sẵn, chúng mới bắt đầu tiến vào thành phố ! Nhưng đến Long Khánh thì đoàn quân cộng sản hoàn toàn bị chận và phải chiến đấu ác liệt với Sư Đoàn 18 Bộ Binh cho đến khi có lệnh buộc quân lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa phải bỏ súng đầu hàng. Sau cùng, đối với vùng III và vùng IV Chiến thuật, bộ đội chỉ gặp những trận chống cự lẻ tẻ của những đơn vị không tuân hành lệnh đầu hàng mà Dương Văn Minh kêu gọi trên đài phát thanh Sàigòn. Do đó, cuộc tiến quân của cộng sản Bắc Việt đã dễ dàng như trở bàn tay. 


Vậy, lý do nào quân cộng sản Bắc Việt tiến chiếm miền Nam, có thể nói, là dễ dàng từ Bến Hải đến Sàigòn ? Xin trả lời ngay, Việt Nam Cộng Hoà và Quân Đội Miền Nam đã bị đồng minh Mỹ bán đứng cho Tàu cộng và Việt cộng. Kết quả thật đắng cay là Mỹ vừa tháo chạy, vừa hăm dọa nhà cầm quyền Đệ Nhị Cộng Hòa, vừa cúp viện trợ nhưng lại tuyên bố với thế giới là họ rút lui trong danh dự để Việt Nam tự giải quyết chuyện nội bộ với nhau ! Lịch sử đã chứng minh bằng một tài liệu mật vừa được giải mã, chính Kissinger âm thầm đi đêm qua Bắc Kinh để bán đứng Việt Nam Cộng Hòa cho Tàu cộng cũng như Việt cộng từ năm 1971. Ngoài ra, Mỹ cũng đã công khai bán đứng miền Nam và bắt tay hợp tác với cộng sản được ghi rõ ràng trong hiệp định Paris năm 1973 qua hai vai chánh được trọn quyền quyết định là Mỹ và Hà Nội theo điều 22 Chương VIII (*). Kết quả của việc phản bội nầy, toàn bộ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa phải buông súng đồng loạt, do đó dù là một đội quân hùng mạnh của miền Nam nhưng đành phải bó tay trước quân cộng sản Bắc Việt. Nhiều nhà phân tích quân sự cho rằng, nếu người Mỹ không vì quyền lợi của họ để bán đứng người bạn đồng minh Việt Nam Cộng Hòa thì quân cộng sản Bắc Việt còn lâu mới đặt chân lên được vùng đất tự do miền Nam. Vậy tôi có thể kết luận một điều chắc chắn rằng, cuộc chiếm miền Nam chẳng có gì gọi là thần thánh và vinh quang nếu người Mỹ không ‘cho phép’ Hà Nội vượt biên giới xâm lăng, thì dù tổ chức và khả năng của đội quân Bắc Việt được Tàu cộng và Liên sô đồng loạt nhúng tay vào bằng vũ khí cũng như nhân lực thì Hà Nội cũng không thể nào thắng được miền Nam ! 


1. Cái nhục của bên thắng trận : 


Tráo trở lật lọng : Thế giới đã biết và chứng kiến trò tráo trở của cộng sản ngay từ lúc Kissinger đi đêm với Bắc Kinh và Hà Nội : Mỹ thỏa ước ngầm sẽ rút quân, cúp viện trợ Việt Nam Cộng Hòa và bật đền xanh cho Hà Nội toàn quyền tổ chức xua quân vào chiếm Miền Nam. Nhưng với lối truyên truyền xảo trá, cộng sản vẫn rêu rao ‘đánh Mỹ cứu nước’, là chiêu bài để lừa bịp dân miền Bắc và cũng là chiếc dù cho âm mưu xâm lăng Việt Nam Cộng Hòa, dù rằng hành động nầy vi phạm trắng trợn những điều khoảng trong hiệp đinh Genève 1954. Nếu thực sự người Mỹ muốn giúp Việt Nam Cộng Hòa chống lại sự xâm nhập từ miền Bắc thì đảng cộng sản không thể chịu đựng với số bom đạn do B52 trút xuống trên đầu hằng ngày, mà phải đầu hàng vô điều kiện, hoặc, thủ đô Hà Nội đã trở thành bình địa ‘không còn hòn đá nào nằm trên hòn đá nào’! Vậy đây là trò lừa bịp xảo trá của kẻ thắng trận, chẳng những đối với dân miền Bắc, Việt Nam Cộng Hòa mà còn ngay với cả thế giới ! 


Thống nhất ăn cướp : Mạo danh ‘thống nhất đất nước’ để đánh chiếm miền Nam không ngoài mục đích duy nhất là ăn cướp, vơ vét của dân, của chính phủ miền Nam cũng như tài nguyên đất nước đưa về cứu đói miền Bắc. Đây là hành động của một bọn thảo khấu thiếu văn minh, xuất thân từ rừng rú…Cả thế giới đã chứng kiến ngay từ lúc cộng sản vừa chiếm xong Sài Gòn, Hà Nội vội vàng vơ vét ngoại tệ, vàng bạc trong ngân khố của miền Nam và xử dụng hàng chục chuyến máy bay chở ra Bắc liền ngay trong đêm hôm sau. Trong số nầy có 16 tấn vàng (người ta phao tin TT Nguyễn Văn Thiệu đã mang đi) đã được các tướng cộng sản cướp về chia nhau. Võ Nguyên Giáp là người đã bỏ túi một nửa số vàng nầy ! Vậy, đã gọi là thống nhất, tức là Nam Bắc cùng một nhà, Sàigòn bây giờ cũng là Hà Nội, tài sản đất nước đều thành của chung, nhưng tại sao kẻ thắng lại vội vàng chở lén lút tài sản miền Nam đi ngay trong đêm sau đó. Sau nầy Hà Nội còn cho lệnh tháo gở các phẩm vật lịch sử của triều đại nhà Nguyễn cũng như của Quốc Gia để đưa về Bắc. Như vậy có phải là bọn cướp đi hôi của không ? Bên thắng đã chiếm xong miền Nam thì của cải vàng bạc ngoại tệ ở đâu vẫn còn đó, tại sao lại tham lam vơ vét chở về nhà mình ? Cũng trong thời gian nầy, mạnh quan thì quan chở, mạnh lính thì lính mang, mạnh dân (miền Bắc) thì dân vác từng chiếc máy quạt, từng cái bàn ủi, từng cái nồi, từng cái chén rồ chen nhau lên xe lên tàu đưa về Bắc ! Thật đẹp mặt cho kẻ thắng trận…trông giống như một đám ăn mày đi hôi của nhà giàu ! 


Giải phóng bóc lột : Đội quân thắng trận miền Bắc tiến đến đâu thì người dân đều bỏ tài sản nhà cửa chạy trốn đến đó. Mội khi ở đâu có cờ đỏ sao vàng (cộng sản) hay cờ đỏ xanh (mặt trận giải phóng miền nam) thì ở đó có nước mắt và máu của nguời dân chảy theo ! Vậy giải phóng cái gì ? Dân miền Nam thông minh, giàu có, sung túc, sống ấm no hạnh phúc thì đâu cần những tên mọi rợ, đói khát và dốt nát đến giải phóng ! Hà Nội gọi là giải phóng dân khỏi chế độ kềm kẹp Mỹ Ngụy, nhưng tại sao lại cướp của dân ? Lột sạch người miền Nam rồi đày họ lên các vùng nước độc để giết từ từ những người trước đây yên chuộng tự do ? Giải phóng cái gì mà dân miền Nam chỉ trong vài ngày đã bị biến xuống thành chó và quân cướp thắng trận cần một đêm để trở thành phú ông ? Vậy đừng bao giờ rêu rao hai chữ giải phóng để bôi bẩn thêm cái bộ mặt nhục nhã của người thắng trận. 

Cải tạo trả thù : Cải tạo của chế độ cộng sản Việt Nam là một sự trả thù bỉ ổi nhất của lịch sử nhân loại. Tôi đồng ý sau khi ngưng tiếng súng, quân lính và nhân viên của chế độ cũ, nếu cần, thì tập trung tạm thời trong một thời gian ngắn để ổn định xã hội. Nhưng tuyệt đối phải tuân theo quy chế tù binh về tập trung, làm việc, ăn uống, chăm sóc thuốc men và nhất là phải tôn trọng nhân phẩm của người thua trận. Lịch sử đã chứng minh rằng, cuộc chiến giữa Nam Bắc của Mỹ trong thời kỳ giành Độc Lập hoặc hai trận chiến vừa qua giữa Đức Quốc Xã và Đồng Minh, những con người có giáo dục và có văn hoá đều biết tôn trọng lẫn nhau giữa kẻ thắng và người bại. Nam Bắc Mỹ khi vừa ngưng tiếng súng, hai phe đã mừng rỡ bắt tay, ôm chầm vỗ về và chia sẻ thương đau cũng như đãi ngộ lẫn nhau sau thời gian đối đầu trực diện sống chết trên chiến trường. Các sĩ quan Đồng Minh bị Đức bắt làm tù binh vẫn được mang cấp bậc trong tù, vẫn sinh hoạt và ăn uống đầy đủ đúng tiêu chuẩn. Đặc biệt sĩ quan Đức biết tôn trọng phẩm giá của những sĩ quan bại trận. Hạ đưa tay lên chào trước một tù binh Đồng Minh lớn cấp hơn, và nhất là ăn nói lễ độ, xưng cấp bậc của người tù trước khi nói chuyện. Đối với cộng sản Việt Nam, thật đẹp mặt cho bọn cướp núi, chúng đã hành xác, hạ nhục những sĩ quan miền Nam sau khi người thua trận đã đưa hai tay lên đầu hàng. Đây là cái nhục của những thành phần côn đồ thắng trận ! 


Làm nhục quốc thể : Trước đây người Nhật đã tặng cho bọn cộng sản Việt Nam một danh từ độc đáo là ‘bọn dòi bọ’. Thật cũng xứng ! Hoan hô người Nhật có một cái nhìn và một câu nói thật chính xác. Cũng nằm trong chiều hướng nầy, cách đây không lâu, một Giám Mục Việt Nam cầm sổ thông hành ra nước ngoài cũng phải thốt lên rằng ‘Khi ra ngước ngoài thật xấu hổ với thông hành do nhà nước Việt cộng cấp’. Điều nầy cũng hoàn toàn đúng, vì người ngoại quốc nước ngoài khi thấy một người Việt cầm visa của Việt cộng thì họ nghĩ ngay rằng, không lao nô thì cũng đĩ điếm, hoặc không buôn lậu thì cũng thuộc loại móc túi, hoặc là dân trồng cỏ (cần sa) hay bán bột (bạch phiến). Chúng ta cũng không thể trách người địa phương được vì các tòa đại sứ Việt cộng ở hải ngoại chỉ là sào huyệt mafia, ổ buôn lậu hoặc là văn phòng bán visa, nơi hành hạ những người mang hộ chiếu Việt Nam. Các đại sứ Việt Nam cộng sản nếu không đi câu trộm tôm cua (Mỹ), buôn lậu sừng tê giác ngà voi (Phi Châu), tổ chức bao che ăn cắp hàng trong siêu thị (Nhật Bản) thì cũng là đầu sỏ các hệ thống trồng cần sa bạch phiến và buôn lậu thịt chó (Bỉ, Pháp). Vậy thật xứng đáng với ‘Chiếc Nôi Nhân Loại’ và ‘Đỉnh Cao Trí Tuệ Loài Người’ của kẻ thắng trận ! 


Thắng làm nô lệ : Bị chống đối, đảng Việt gian cộng sản ngày đêm nơm nớp sợ dân trong nước nổi dậy, lo người Việt hải ngoại chống phá cũng như sẽ bị như Hoa Kỳ đánh bất cứ lúc nào nên chúng phải bám vào Tàu, và cuối cùng, thì dâng biển bán đất và trải thảm rước bọn Chệt vào cai trị đất nước. Kẻ thắng trận đã dốt lại thiếu khả năng lãnh đạo nhưng tham nhũng vô độ, cuối cùng, để được an toàn ngồi ngai vàng cai trị đất nước Việt Nam, chúng (đảng cộng sản) đang chuẩn bị con đường thật sự an toàn bằng cách biến Việt Nam thành một tỉnh nhỏ của Tàu. Vậy kéo quân vào chiếm Việt Nam Cộng Hòa xong rồi dâng toàn bộ đất nước cho Tàu cộng là một điều ô nhục cho những kẻ gọi là thắng trận ! 


Thắng rồi làm gì ? Xin nói ngay rằng cộng sản đã đưa đất nước và dân tộc Việt Nam xuống tận cùng vực thẳm của xấu xa và tội lỗi. Những hào nhoáng bên ngoài không thể che giấu một tình trạng mục nát từ gốc rễ cũng như đói rách của đại đa số người dân bị trị. Từ cái bình đẳng vật chất cho đến quyền sống tối thiểu của người dân không được chấp nhận ở Việt Nam mà xã hội ở đây được chia ra hai thành phần rõ rệt : thống trị và bị trị. Một bên giàu có với quyền hành tột bực trong tay, một bên thấp cổ bé miệng đói khát nghèo nàn. Ngoài ra, đạo đức và văn hóa nhân bản của Việt Nam đã cuốn gói ra đi để nhường chỗ cho dối trá lừa lọc và bạo lực do đám người thắng trận đưa từ Bắc vào. Ngày nay, dưới mắt của thế giới tự do, đất nước Việt Nam là một cái chợ trời tạp nhạp trong đó giá trị con người chỉ được tính bằng đồng tiền và giá trị dân nghèo chẳng khác gì là lao nô và gái điếm. Thật nhục nhã cho thành phần cai trị là những tên thắng trận từ rừng chui ra ! 


2. Cái Vinh của bên thua trận : 


- Đĩ điếm trộm cắp : Ngay từ đầu, cộng sản Hà Nội đã to mồm phỉ báng dân miền Nam là ‘một bọn đĩ điếm đầu trộm đuôi cướp, chúng nó ôm nhau xuống tàu để một lần nữa qua Mỹ làm nô lệ’. Bây giờ thì chính bọn thắng trận đang quỳ gối khẩn cầu van xin thành phần trộm cắp đĩ điếm ngày trước hãy bao dung, tha thứ và gởi tiền bạc cho chúng, đồng thời quay về xây dựng đất nước, xóa bỏ hận thù…Đây đúng là một trò tráo trở vô liêm sỉ mà chỉ có bọn vô học mới dám diễn trò hề rẻ tiền nầy cho thế giới xem ! Người Việt hải ngoại lúc nào cũng vinh dự với quá khứ của mình : là thuyền nhân vượt biến, là thành phần Quân-Cán-Chính cũ hay cựu tù nhân chính trị…Nhưng ngược lại ra đường không bao giờ thấy một tên nào dám nhận mình là cộng sản hoặc cò mồi nằm vùng ! Sao lạ vậy ? Chắc chắn kẻ thắng trận cảm thấy xấu hổ vì sợ người đời biết xuất xứ của chúng là dòng họ ‘dòi bọ’ (danh từ người Nhật âu yếm tặng cho nhà ngụy quyền cộng sản Việt Nam). 


- Chạy theo đế quốc : Trước kia người thắng trận thường lớn tiếng tuyên truyền rằng tư bản là một chế độ thối nát và văn minh Âu Mỹ chỉ là thứ giả tạo, trong đó người bóc lột người, xã hội thối nát. Nhưng ngày nay, tên cộng sản nào đưa được con cháu ra du học tại các nước Âu-Mỹ là xem như phước đức của ông bà ba mươi đời để lại. Hơn nữa, bất cứ tên nào trong bộ chính trị cầm được visa nhập vào các xứ Âu Mỹ là xem như được lên thiêng đàng. Ngoài ra, những tên đảng viên cán bộ cao cấp đang tung tiền thuê những ông bà mai để được làm bạn thông gia với đám cướp bóc trộm cắp đĩ điếm ngày trước ! Chuyện rầm rộ nhất là tên Nguyễn tấn Dũng được làm thông gia với một gia đình gốc trộm cắp đĩ điếm tại Mỹ. Như vậy là từ nay, tên thủ tướng nầy an tâm nhờ gia đình vợ đứng ra lập công ty ma để chui tiền qua Mỹ dưới nhiều hình thức, được cái passeport qua thăm con thăm rể thoải mái, và nhất là, nếu có biến cố thì chịu nhục quỳ lạy thằng rể để nó đở đầu cho gia đình bố vợ chạy qua núp bóng dưới ‘một chế độ thối nát’ ‘văn minh giả tạo’ và ‘người bóc lột người’ ! 


- Cải tạo được gì ? : Quân-Cán-Chính của Việt Nam Cộng Hòa dù bị hàng chục năm tù khổ sai, đói khát, bệnh tật nhưng tinh thần của những anh hùng miền Nam vẫn sáng suốt và kiên trì bảo vệ chính nghĩa của mình. Chương trình tẩy não của chế độ cộng sản chẳng ảnh hưởng chút nào trong đầu óc của những người có văn hóa, có lý trí. Thời gian ‘nín thở qua sông’ năm hay mười năm đi nữa, những cái tuyên truyền láo khoét, sai sự thật, phản khoa học của Hà Nội chẳng ăn nhằm gì đối với những người bị đi tù dưới cái mỹ danh là cải tạo tư tưởng. Ngược lại, càng có cơ hội sống cung với cộng sản thì mới thấy và hiểu được những tư tưởng cũng như hành động của thành phần bần cố nông thắng trận ! Tóm lại Việt gian cộng sản hay kẻ thắng trận đã lầm : càng cải tạo thì càng bị dân miền Nam căm thù thêm nữa ! 


- Tương lai đất nước : Một ngày gần đây, thành phần thắng trận sẽ vắt giò lên cổ mà chạy, đất nước toang hoang, thì chính con cháu của ‘bọn đĩ điếm đầu trộm đuôi cướp’ sẽ là thành phần nòng cốt chính để xây dựng lại mảnh đất nghèo nàn, vô văn hóa, rỗng ruột, bệ rạc mà bọn thắng trận và con cháu của chúng đã phá nát từ một nửa thế kỷ nay. Như vậy, kẻ thắng trận còn gì để ngoan cố huênh hoang, và nhất là, những tên bồi bút và cò mồi nằm vùng chắc chắn sẽ không còn đường sống, vì lịch sử không bao giờ tha thứ cho những kẻ lầm đường lạc lối nhiều lần mà vẫn ngoan cố trước khi nhắm mắt bước vào quan tài ! 


Tóm lại, sau 38 năm thắng trận, đảng cướp Việt gian chẳng những không làm được gì cho quê hương và dân tộc mà còn khốn nạn đem đất nước dâng cho Tàu cộng, làm ô danh dòng giống con cháu Lạc Hồng. Vậy bọn bồi bút cũng như thành phần cò mồi nằm vùng từ nay hãy câm họng lại…. 


Kết luận, bây giờ có thể xác định lại, ai thắng ai thua ? Người trong nước và thế giới tự do chắc chắn đã thấy rằng, bốn mươi năm sau, chính kẻ thua (người Việt hải ngoại) đã âm thầm đánh bại người thắng (đảng Việt gian cộng sản) bằng chính nghĩa, bằng lý trí và bằng tình người. 

Đinh Lâm Thanh

Tháng Tư Buồn, 2013 












0

Quốc Hận 30-4 -Thương Tiếc Những Nữ Anh Thư Tử Chiến với Giặc Thù cộng sản




Chị Thàng đã chọn một cái chết thật dũng cảm và cao cả. Ôm hai đứa con vào lòng, chị Thàng bình tĩnh chờ cho những tên Việt cộng nhào vào, chị rút chốt...

NHỮNG NGƯỜI VỢ LÍNH THỜI LỬA BINH



Trong cuộc chiến tranh bảo quốc chống ngăn cơn sóng đỏ của cộng sản quốc tế với đạo quân tay sai tiền kích của chúng là binh đội cộng sản Bắc Việt và Việt cộng miền Nam, khuôn mặt của những người vợ lính dường như đã rất mờ nhạt đằng sau chất muối trắng đẫm đầy trên lưng áo của những người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng chiến tranh càng nặng độ thì hình ảnh những người chị vô danh ấy đã dần hiện rõ trong một ánh sáng diệu kỳ, mà chúng ta chỉ có thể cúi người thật sâu xuống để tôn vinh và ngợi ca. Ðó là những người lính không có vũ khí, không số quân, không tiền lương, không cả lương thực hành quân, nhưng là những người lính tỏa hào quang chói sáng nhất trong những hoàn cảnh nghiệt ngã thắt ngặt nhất, mà đã góp phần đem chiến thắng quyết định trên chiến trường.
Ðó là NHỮNG NGƯỜI VỢ LÍNH, những người chị cao cả mà đã cùng chồng dấn mình trong cơn bão lửa của chiến tranh, cùng chia sẻ cái chết, có khi các chị hy sinh trước cả các anh. Những cái chết anh dũng trong âm thầm đó nào ai biết được. Không có Lá Quốc Kỳ Vàng Ba Sọc Ðỏ phủ trên chiếc quan tài được ghép thành từ những mảnh ván đơn sơ, không có chiếc huy chương Anh Dũng Bội Tinh Với Nhành Dương Liễu, không cả tiếng kèn truy điệu ai oán.
Những người lính đóng đồn cùng vợ con của các anh cùng sống chui rúc trong những cái hầm tối tăm ngột ngạt, dưới những những cái hố nhỏ ngập đầy nước. Những người lính nghèo nàn, rách rưới và tội nghiệp co ro ôm súng gác giặc và đánh giặc trong cái lạnh xé thịt của đêm. Ăn uống thì đạm bạc đến không có gì đạm bạc hơn được nữa. Một cái nồi cơm méo mó, với vài con cá nhỏ kho trong chất nước mắm hạng bét mặn chát những muối, một dĩa rau muống ruộng hay rau đắng xơ xác, mà có thể tìm thấy mọc đầy khắp những vũng nước đọng trên những cánh dồng lầy.
Cả gia đình người lính Ðịa Phương Quân hay Nghĩa Quân quây quần chung quanh mâm cơm đơn sơ đó chấp nhận sự thua thiệt của mình. Không than thở, không ta thán và vui lòng với niềm hạnh phúc mong manh của mình. Một năm 365 ngày, mười năm, hai mươi năm, cho đến ngày cuối cùng của cuộc chiến, hơn bảy ngàn đêm những người chị ấy chưa từng bao giờ biết ngủ yên giấc là gì. Chị thao thức đến nửa khuya, lắng nghe tiếng đại bác vọng ì ầm về thành phố từ phía mặt trận có anh ở đó, chị thổn thức nguyện cầu cho anh được bình yên, để anh có một ngày được về với chị và con, dù chỉ là những khoảnh khắc về phép thật quá hiếm hoi. Hay nếu chị cùng chồng trấn thủ lưu đồn, anh chiến đấu cơ cực như thế nào, anh ăn ngủ chập chờn ra sao, thì chị cũng cơ cực và chập chờn ngần ấy.
CHỊ PHẠM THỊ THÀNG, NỮ ANH THƯ ÐẤT GÒ CÔNG

Người vợ lính ở tiền đồn cáng đáng cùng một lúc hai công việc, mà công việc nào cũng biểu hiện hình ảnh và đức tính cao quí của người phụ nữ Việt Nam. Thứ nhất, đức tính đảm đang tận tụy của người vợ, người đàn bà Việt Nam quán xuyến chuyện gia đình, trông nom dạy dỗ con cái và nấu nướng những bữa ăn.
Thứ hai, khi quân giặc đã thấy dẫy đầy ngoài những vòng rào kẽm gai, thì những người nữ chiến sĩ chưa từng một ngày được huấn luyện ở quân trường ấy đã chiến đấu như bất cứ người lính chuyên nghiệp nào. Chị cũng biết dùng máy truyền tin gọi Pháo Binh, chị biết sử dụng thành thạo mọi loại súng trong đồn có, chị ném lựu đạn ác liệt và chính xác, tấm thân nhỏ bé của chị oằn nặng dưới những thùng đạn tiếp tế. Và chị cũng sẵn sàng nằm gói thân thiên thu trong chiếc poncho, để tên chị vĩnh viễn đi vào lịch sử. Chúng ta có nhiều người chị như vậy lắm. Ở ngay tại đồng Giồng Ðình này thì ít nhất cũng có những chị Phạm Thị Thàng và Trần Thị Tâm.
Ðêm 2.10.1965, với âm mưu làm xáo trộn hệ thống tiếp viện của những đơn vị diện địa trong khu vực Tiền Giang để dễ dàng thanh toán mục tiêu chính nào đó, chỉ trong một đêm Việt cộng đã tổ chức tấn công 11 vị trí của quân ta với quân số thật lớn. Ðồn Giồng Ðình thuộc tỉnh Gò Công cũng bị áp lực rất nặng của quân địch khi hứng chịu cuộc cường kích của 300 lính cộng.
Ðây là một lực lượng chính qui Việt cộng với hỏa lực rất mạnh, chúng quyết tâm hủy diệt đồn Giồng Ðình nhỏ bé, mà chỉ có vỏn vẹn một Trung Ðội Nghĩa Quân 24 tay súng trấn giữ. Là những con ác quỷ hung tợn và thâm độc, lực lượng cộng quân đã bố trí ở hướng có nhiều nhà dân chúng, vừa làm bia đỡ đạn cho chúng, vừa ngoác miệng tuyên truyền gây căm thù nếu quân ta bắn trả. Người dân, nhất là những ông bà lão già, đàn bà và trẻ con luôn luôn là những cái bia sống đỡ đạn cho bọn giặc hèn nhát gọi là những “người giải phóng”. Với quân số ấy, vũ khí hùng hậu ấy mà chúng cũng ngán ngại 24 chiến sĩ Nghĩa Quân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đến nỗi phải cậy nhờ đến máu thịt của đồng bào để có cơ may thủ thắng, thì còn từ ngữ nào, hình dung từ tồi tệ nhất nào để diễn tả bộ mặt cùng hung cực ác rất đốn mạt của cộng sản nữa không.
Ðúng 2 giờ đêm, quân cộng dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Thượng Úy Sáu Bích, đã mở cuộc tấn công từ hai mặt đánh vào Giồng Ðình, với sự tin tưởng điên rồ, rằng chúng sẽ thanh toán cái tiền đồn nhỏ xíu này trong một thời gian ngắn. Chiến thắng dường như là chắc chắn, vì với quân số mười lần hơn, mười đè một, dẫu chúng có thí chín tên thì cũng có thể hạ gục được một chiến sĩ Nghĩa Quân Giồng Ðình.
Trên lý thuyết, thì giả thiết đó dường như đúng. Nhưng trên trận địa, người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa luôn luôn thể hiện những chuyện phi thường, mà rất hằng hiện hữu trên bất kỳ chiến trường nào, quả thật cộng quân đã chọn lầm mục tiêu. Sau ba đợt tấn công hung bạo, tưởng gạch đá cũng phải nát thành tro, đã chiếm được 2 trong số 3 lô cốt trong đồn, cộng quân vẫn phải rút trở ra. Cuộc tấn công lần thứ tư được hối hả tổ chức và thực hiện, với quyết tâm san bằng Giồng Ðình. Nhưng liệu 24 chiến sĩ Nghĩa Quân có cho phép điều đó không. Câu trả lời là không, không chỉ đến từ ý chí hừng hực tử thủ của các anh, mà còn là từ đôi bàn tay yếu mềm của những người vợ lính đang sống cùng với chồng con của các chị trong đồn. Phải, cuộc chiến thắng cuối cùng của Nghĩa Quân đồn Giồng Ðình sẽ không thể thực hiện được, nếu không có sự góp sức chiến đấu của những người chị này. Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh. Không phải chỉ những người chị dũng cảm ấy không thôi, mà cả trẻ con cũng đánh.
Ðồn Giồng Ðình nằm ở một vùng thôn ấp hẻo lánh trong tỉnh Gò Công, do một Trung Ðội Nghĩa Quân trấn giữ, với thành phần chỉ huy gồm có anh Nguyễn Văn Thi, Ðồn Trưởng, anh Lê Văn Hùng, Ðồn Phó và anh Lê Văn Mẫn, âm thoại viên. Trấn thủ một vị trí hung hiểm như vậy, không chỉ có 24 tay súng mà đã đủ, nên tất cả những người vợ lính trong đồn đều đã được chồng huấn luyện sử dụng thành thạo những loại máy móc truyền tin và vũ khí. Như vậy số tay súng đã được nhân lên gấp đôi.
Trong nhiều trường hợp, đến những giây phút tử sinh tuyệt vọng nhất, những em bé cũng tham chiến, khi các em gan dạ bò dưới lưới đạn của giặc để đem tiếp tế đến cho cha và mẹ. Không ai buộc những người vợ lính, con lính cầm súng đánh địch. Nhưng chính những người vợ lính, con lính ấy làm sao có thể ẩn náu tìm cái sống trong khi chồng và cha của họ sắp ngã gục ngoài chiến hào.
Khi chấm dứt đợt tấn công thứ ba, địch tạm rút để tái tổ chức tấn công, thì tình trạng bên trong đồn Giồng Ðình đã khá là bi đát. Ðã có đến 16 chiến sĩ Nghĩa Quân bị thương, chỉ còn 8 Nghĩa Quân còn chiến đấu được. Âm thoại viên Lê Văn Mẫn bị thương ở đầu trong lúc anh đang cố gắng gọi máy về Tiểu Khu.
Anh Mẫn gục xuống buông chiếc ống liên hợp. Chị Trần Thị Tâm, vợ anh Mẫn vội đặt con bên cạnh anh và chộp lấy ống liên hợp. Liên lạc được tiếp nối, chị Tâm nghiễm nhiên trở thành một âm thoại viên, và là cứu tinh của đồn Giồng Ðình. Ở một góc đồn, anh Lê Văn Hùng và chị Phạm Thị Thàng, vợ anh, và hai đứa con nhỏ đang phải đối đầu với một lực lượng quá đông của địch.
Nhìn ra ngoài hàng rào kẽm gai, giặc đã đã tràn vào đen ngòm như những con quái vật hung hãn. Anh Hùng chỉ còn trong tay cây tiểu liên Thompson và 16 trái lựu đạn, chị Thàng có một khẩu Carbine. Thật tội nghiệp cho hai đứa nhỏ, sức ép của bộc phá và súng SKZ của Việt cộng bắn vào quá gần, các em không còn khóc được nữa mà đã nằm bất động dưới chân hai vợ chồng anh Hùng. Chị Thàng thì thào:
- Chúng đang phá lô cốt chánh, để em bắn yểm trợ anh bò về giữ. Lô cốt mất là đồn mình mất, em nằm tại đây giữ mấy đứa nhỏ, nếu chúng tràn vào thì… thì… em ném lựu đạn ra, có thể cầm cự đến sáng được.
Anh Hùng ngần ngừ, anh rưng rưng nhìn vợ con, rồi nhìn về phía lô cốt. Tiếng súng từ lô cốt cuối cùng đã yếu ớt lắm, có lẽ mấy Nghĩa Quân cố thủ ở đó đã kiệt quệ quá rồi. Số phận của anh Thi Ðồn Trưởng thế nào. Anh Hùng lắc đầu không dám nghĩ đến chuyện xấu nhất đã xảy ra cho đồng đội. Nhưng nếu Việt cộng chiếm được lô cốt ấy, thì coi như đánh dấu chấm hết cuộc kháng cự. Anh Hùng phải quyết định, dù quyết định đó quá đau xót, là bỏ lại vợ con, mà trong lúc quân giặc đã hò hét ngay sát bên rồi:
- Anh chạy theo giao thông hào, em bắn yểm trợ cho anh.
Anh Hùng nhìn chị Thàng và hai đứa nhỏ lần cuối cùng. Trong lòng anh quặn lên một nỗi bi thương. Trời ơi, vợ con mình. Hai đứa nhỏ chẳng biết còn sống hay đã chết. Anh phóng mình xuống hào chạy băng băng về hướng lô cốt. Cây Carbine trên tay chị Thàng run lên, những tràng đạn rải vào những cái bóng đen đã quá gần. Anh Hùng đã bò vào được lô cốt, giữa những tiếng đạn nổ rền trời. May quá, anh Thi trưởng đồn vẫn nguyên vẹn. Súng SKZ của địch thụt ầm ầm, nhưng anh Hùng vẫn có thể nghe được từng tiếng lựu đạn nổ từ phía công sự của chị Thàng.
Nước mắt anh rơi lả chả trên nền đất. Anh đã đếm được đến con số 15, mà tiếng súng của địch vẫn nỗ dòn dã ngay sát tuyến phòng thủ của chị Thàng. Anh biết giây phút định mệnh thảm thiết nhất cũng đã điểm. Chị Thàng sẽ làm gì với quả lựu đạn thứ 16. Anh Hùng đau đớn rên lên trong lòng : “Chỉ còn một trái lựu đạn nữa thôi, làm sao em cầm cự được đến sáng”. Chính anh cũng không có được một giây để nghĩ tiếp cái gì sẽ xảy đến cho vợ con mình, vì dưới chân lô cốt anh tử thủ đã đông nghẹt quân giặc. Ðủ mọi thứ loại súng nỗ chát chúa khắp đồn, anh Hùng không biết chắc là mình đã nghe được tiếng nổ của trái lựu đạn thứ 16 chưa.
Cuộc chiến đấu đã kéo dài được một tiếng đồng hồ, quân địch đã phá được lớp kẽm gai cuối cùng và sắp tràn ngập đồn Giồng Ðình. Lúc đó là 3 giờ sáng rạng ngày 2.10.1965. Tình hình đã quá nguy ngập. Anh Nguyễn Văn Thi, Ðồn Trưởng, quyết định thà hy sinh còn hơn là để đồn lọt vào tay địch. Anh giật lấy ống liên hợp từ tay chị Tâm và thét lớn:
- Hãy bắn lên đầu chúng tôi ! Bắn vào giữa đồn… Hai lô cốt thứ nhứt và thứ hai đã thất thủ. Tụi tui ở lô cốt thứ ba. Hãy bắn lên trên đầu chúng tôi, Việt cộng đông lắm. Bắn đi… bắn…
Sau tiếng gọi thống thiết của người Ðồn Trưởng, Pháo Binh Tiểu Khu Gò Công lập tức bắn vào đồn với loại đầu nổ cao. Loại đạn đặc biệt này nổ khi cách mặt đất chừng 4, 5 thước, rất hữu hiệu tiêu diệt biển người địch, quân ta núp trong lô cốt vẫn có hy vọng sống sót. Những cái bóng đen nhập nhoạng dưới ánh sáng hỏa châu văng tung tóe, tiếng kêu dẫy chết của chúng như tiếng rú của quỷ. Hàng tràng đạn nổ cao vẫn dội ùng oàng xuống đồn. Chiếc lô cốt cuối cùng vẫn đứng vững, anh Thi cùng anh Hùng từ trong những lổ châu mai bắn tỉa từng tên địch. Giữa tiếng súng nổ dòn, dường như người ta nghe âm thanh rì rì của máy bay. Không Quân Việt Nam đã tới. Những chiếc A1 khu trục cơ đã xuất kích. Ðến đây thì “Thượng Úy” Việt cộng Sáu Bích, tên chỉ huy trận đánh đã có thể nhận thấy rằng, cuộc tấn công đồn Giồng Ðình đã đánh dấu chấm hết, với phần thắng nghiêng về phía Nghĩa Quân Việt Nam Cộng Hòa. Lúc 4 giờ 30 sáng, chiến địa hoàn toàn im tiếng súng. Quân địch đã kéo những xác chết và những tên bị thương chạy trốn vào phía bóng tối.
Khi ánh hừng đông của một ngày mới đã lên, hai Ðại Ðội Ðịa Phương Quân do chính Trung Tá Tiểu Khu Trưởng Gò Công chỉ huy đã đến và tổ chức bung quân ra lục soát. Quân cộng đã để lại trận địa 23 xác chết, ở giữa đồn có 6 xác khác nằm bên cạnh lô cốt thứ ba, nơi mà anh Ðồn Trưởng Thi, Ðồn Phó Hùng và chị Tâm giữ máy truyền tin đã kháng cự mãnh liệt, thà chết không hàng. Những tên Việt cộng này mang trên mình rất nhiều lựu đạn và bộc phá, chắc là chúng quyết thí mạng để phá cho bằng được ổ kháng cự cuối cùng này.
Anh Thi và anh Hùng đã bắn địch theo lối xâu chéo, nghĩa là bắn chéo góc với nhau tạo thành một xạ trường quét gọn tất cả những tên cộng nào nằm trong đó. Ngày hôm sau, một người thường dân bị Việt cộng bắt đi tải thương lén trốn về được đã cho biết số bị thương của chúng chở đầy sáu chiếc ghe tam bản. Một lính cộng may mắn bị thương tên Dương Văn Thiều, 18 tuổi, sống sót và bị bắt làm tù binh. Tại sao may mắn ? Vì nếu anh ta bị kéo đi theo vào bưng biền, nếu không bị chết vì nhiễm trùng, bị những quân y sĩ Việt cộng cưa cắt bằng những loại cưa và đục của thợ mộc, thì cũng bị cấp chỉ huy ra lệnh mang anh đi thủ tiêu. Ðó là lý do giải thích tại sao sau ngày 30.4.1975, người dân Miền Nam hiếm thấy người thương phế binh cộng sản trên đường phố.
Nhưng đối với anh Hùng, thì tất cả những gì mà Viêt cộng đã trả giá cho cuộc tấn công không làm anh quan tâm. Ngay khi tiếng súng vừa chấm dứt., quân cộng đã rút đi, thì anh đã như một người điên lao mình ra chỗ chiến hào mà chị Thàng đã một mình một súng trấn giữ ở đó, với một niềm hy vọng mỏng manh, rằng đừng bao giờ trái lựu đạn thứ 16 được rút chốt. Anh Hùng bò vào khúc hào mà anh đã nuốt nước mắt chạy đi. Chị Thàng cùng hai đứa con của anh nằm chết bên cạnh ba xác Việt cộng. Anh Hùng gục xuống như thân cây chuối bị một nhát dao bén chém ngọt làm đôi. Anh biết, nếu trái lựu đạn thứ 16 nổ thì chị Thàng cũng đi vào cõi chết, vì chị Thàng sẽ không bao giờ cho phép giặc bắt chị hoặc đạn của chúng bắn vào người chị. Chị Thàng đã chọn một cái chết thật dũng cảm và cao cả. Ôm hai đứa con vào lòng, chị Thàng bình tĩnh chờ cho những tên Việt cộng nhào vào, chị rút chốt!
Tiếng nổ kinh thiên cùng với xác thịt và máu của người nữ chiến sĩ đó đã được đánh đổi với ba mạng giặc. Anh Hùng ôm xác vợ con vào lòng và gần như ngất xỉu. Nhưng khi nhìn ra ngoài, những xác giặc thù nằm ngỗn ngang khắp nơi, trong nỗi đau khổ tột cùng của mình, anh Hùng thấy trong lòng dậy lên một niềm tự hào đến nghẹn ngào. Sự hy sinh của chị Thàng đã cứu sống được tất cả những thương binh Nghĩa Quân cùng vợ con các anh, nhưng trên hết cứu sống chính sinh mạng của người chồng mà chị yêu mến. Những viên đạn Carbine và 15 trái lựu đạn của chị đã đóng góp vào sự tồn tại kỳ diệu của đồn Giồng Ðình. Một người lính chuyên nghiệp và thiện chiến nhất cũng chỉ làm được đến ngần ấy. Nếu cái lô cốt thứ ba không đứng vững, thì chắc chắn tất cả sinh mạng mấy mươi người Nghĩa Quân và vợ con của đồng Giồng Ðình đều sẽ chết hết.
Anh Hùng ẳm chị Thàng ra ngoài, để trông thấy những người còn sống, những người vợ lính khác đã gục đầu khóc tiếc thương chị Thàng. Những nấm mộ đất được đắp vội với ba tấm bia tang tóc. Một của chị Phạm Thị Thàng, và hai kia của cháu Lê Văn Dũng và Lê Tấn Sỹ. Ôi, những người vợ của lính trong thời lửa binh. Chị Phạm Thị Thàng, chị Trần Thị Tâm, và nhiều người chị khác trên khắp nẽo chiến trường, chị Thạch Thị Ðịnh, chị Bùi Thị Xiếu, chị Am Reng. Người lính của chúng ta, những công dân xếp hạng chót nhất trong bậc thang xã hội, nhưng là những người hứng chịu oan nghiệt trước nhất, là bức tường chắn cho sự an toàn của hậu phương phồn thịnh và hạnh phúc. Trong đời của các anh không có được một thứ ưu tiên vật chất nào cả, ngoài cái ưu tiên phải hy sinh và chết. Có những người lính từ Miền Tây ra tận miền hỏa tuyến hay trên vùng cao nguyên sương mù Miền Trung, nhiều năm liền không có lấy được một ngày phép về thăm gia đình. Nếu anh may mắn, thật đau xót, quân thù bắn anh bị thương, thì anh mới có cái diễm phúc được nắm trong tay tờ giấy phép. Còn nếu sự gọi là may mắn đó đi xa hơn một bước, anh chết, thì anh được phép dài hạn trở về và vĩnh viễn được an nghỉ ở nơi đã sinh ra anh. Ðầu năm 1972, trong một trận đánh của Sư Ðoàn 3 Bộ Binh tại khu vực Cồn Tiên nằm sát phía Nam khu phi quân sự bên này bờ sông Bến Hải, một tiểu đoàn sau nhiều ngày cố gắng đã không thể chiếm được một cao điểm. Vị Tiểu Ðoàn Trưởng gọi bốn người lính gốc Miền Tây lên hứa sẽ cấp mỗi anh mười ngày phép nếu các anh chiếm được ngọn đồi ấy. Bốn người tráng sĩ Kinh Kha đã nai nịt tề chỉnh, mang thật nhiều lựu đạn bò lên, mỗi người cầm một cây gậy ngắn dò đường. Ðêm tối như mực. Hễ chọt trúng cái lổ nào là thảy lựu đạn vô cái lổ đó, vì ở đó chính là cái miệng hầm chốt của địch. Ðến sáng, bốn người dũng tướng vô danh đó đã reo hò trương Cờ Vàng Việt Nam trên đỉnh cao điểm. Ôi, những ngày phép đã trở thành một ân huệ chứ không phải là một quyền lợi đương nhiên của những người lính trận.
Người vợ lính cùng chia sẻ với chồng những nỗi đắng cay thiệt thòi đó, bằng tất cả sự câm nín nhẫn nhục và vui lòng với những gì mình có. Một góc hầm tối tăm, một chiếc ghế bố cũ, vài cái nồi, chảo nhem nhuốc, những cái chén sành và những đôi đũa tre, cùng tiếng cười của lũ trẻ thơ cũng đủ làm nên thành niềm hạnh phúc vĩ đại của những người vợ lính. Chị Thàng đã chết đi, anh linh của chị cùng hai cháu bé đã thăng thiên lên cõi vĩnh hằng, nhưng những người còn sống cùng thời với chị, cho mãi đến tận bây giờ và ngàn đời sau, dân tộc Việt Nam sẽ không bao giờ quên tên chị. NGƯỜI CHỊ CAO CẢ PHẠM THỊ THÀNG. Vì tên chị đã được trân trọng ghi chép vào những trang bi tráng nhất của lịch sử dân tộc Việt Nam chống Cộng sản quốc tế và Cộng sản Hà Nội, một lũ hung đồ diệt chủng, diệt dân tộc gớm ghiếc nhất của thế kỷ thứ 20 và của lịch sử hình thành nhân con người.
AMRENG, NGƯỜI NỮ CHIẾN SĨ CAO NGUYÊN

Quân cộng sản hành quân trên vùng cao nguyên thường khinh rẻ và húng hiếp các sắc dân Thượng rất thậm tệ. Chúng bắt trai tráng đi dân công, thậm chí cho bổ sung vào những đơn vị Thượng cộng, người làng thì bị ép buộc đóng góp lương thực, lúa gạo. Chúng dùng muối, là thứ tối cần của người dân miền cao, để đổi chác một cách rất bất lợi cho người Thượng. Người Thượng sống vất vả quanh năm, chỉ trông cậy vào những mảnh đất rừng khai phá để trồng trọt chút hoa màu hay trồng lúa rẫy, không đói đã là may lắm rồi, có còn đâu dư dả để cung phụng cho bọn Phỉ Cộng. Có nhiều trường hợp cả làng trong rừng sâu chịu không nỗi cảnh áp bức, giết chóc, đã kéo nhau ra quận hay tỉnh để xin nương náu với người Kinh.
Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã lập Bộ Phát Triễn Sắc Tộc để giải quyết những vấn đề của người thiểu số. Hàng trăm trại tiếp cư tị nạn cộng sản đã được thiết lập để đón tiếp đồng bào Thượng và giúp đỡ đồng bào tạo dựng cuộc sống mới. Ðất canh tác được cấp phát vô điều kiện cho đồng bào Thượng tị nạn cộng sản. Thông thường thì mỗi gia đình thiên tai hay tị nạn đều được cấp phát 10 bao xi măng và 20 tấm tôn để cất lại một căn nhà nhỏ. Một nước nhỏ, nghèo là Việt Nam Cộng Hòa, quanh năm chiến tranh, ngân khoản thiếu thốn, mà đã cắn răng gồng gánh giúp đỡ hàng triệu người đồng bào bất hạnh của mình. Không phải “Lá lành đùm lá rách nữa”, mà là “Lá rách đùm lá nát”. Ðã vậy mà thôi đâu, những làng định cư nhỏ bé và nghèo nàn ấy vừa được dựng lên chưa được bao lâu, thì Việt cộng đã tràn về đốt phá tan hoang. Những chiếc lá rách nát lại cắn răng san sẻ cho nhau những gì mình có. Dưới mắt cộng sản, thì những người dân chạy về phía chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng Hòa xin được che chở và giúp đỡ, đều mang cái tội tày trời là “dân ngụy”, là “phản động”, dù có bắn bỏ hay đốt cháy nhà cửa của họ cũng là chuyện trừng phạt đương nhiên của điều mà chúng gọi là cuộc “cách mạng giải phóng”.
Với bản chất là một lũ cướp chuyên nghiệp và man rợ, cộng sản Hà Nội hiện nay không bao giờ từ bỏ cơ hội chiếm đoạt đất khẩn hoang của người Thượng. Chúng chờ cho các sắc tộc Thượng khai phá rừng tạo dựng nên thành những vùng sinh sống màu mỡ trên những tỉnh cao nguyên, là chúng kiếm chuyện cứớp đoạt một cách trắng trợn ngay, nại lý do đất đai thuộc về quyền quản lý của nhà nước, người dân không có quyền sỡ hữu. Mặt khác, chúng áp dụng hình thái thực dân, cho di chuyển dân Kinh gốc Miền Bắc vào ở trên đất mà người Thượng đã sinh sống từ ngàn năm, lấn dần, lấn dần, người Thượng kém thế phải lùi mãi vào tận rừng sâu,ở chỗ chỉ có nước độc, bệnh hoạn và đói kém. Ðã thế mà cộng sản nào chịu buông tha, chúng vẫn cứ cho phép những người gọi là di dân tràn vào như vết dầu loang, để đồng bào Thượng chịu không nỗi phải chạy qua đất Miên xin tị nạn. Ðây là một tiến trình có chủ mưu, có sách lược để tiêu diệt dần mòn dân Thượng. Chúng ta có thể thấy ngay rằng, những người di dân Miền Bắc đã không biết rằng mình đang được rải ra làm phên dậu phòng thủ dọc theo dãy biên thùy Trường Sơn, án ngữ con đường đổ xuống đồng bằng duyên hải, nếu có một đạo quân đánh sang từ đất Lào và Miên. Cũng tốt, cái phên dậu đó giống như con dao hai lưỡi, rồi cũng có một ngày những đồng bào di dân nghèo Miền Bắc đó sẽ trở thành một lực lượng mạnh có khả năng thọc sâu mũi dao vào tận tim của bọn cộng sản để tiễn chúng xuống tận đáy địa ngục.
Tức nước thì có lúc cũng phải vỡ bờ. Ngày 12.4.2004, nhiều chục ngàn dân Thượng của các sắc tộc sinh sống trong những tỉnh Kontum, Pleiku, Darlac, Phước Long, Bình Long đã kéo vào những thành phố tỉnh lỵ để hình thành một cuộc phản kháng bất bạo động, phản đối cộng sản Hà Nội đàn áp đức tin đạo Tin Lành, chiếm đoạt đất đai và quyền sống căn bản của người Thượng. Dưới mắt cộng sản, dù chỉ là một biểu hiện phản đối nhỏ cũng đã được gán cho cái tội phản động, tội chết, chứ đừng nói gì đến những cuộc tập trung đông đảo như vậy. Hàng sư đoàn bộ binh của cộng sản đã được điều động lên phối hợp với công an đàn áp dã man cuộc tập trung. Hàng trăm đồng bào Thượng đã bị bắn chết, những người bị thương bị đem vào cô lập trong bệnh viện nhà nước, không ai có thể vào thăm viếng, kể cả những phóng viên và những nhà ngoại giao nước ngoài.
Ngày đầu xuân Tân Hợi 1971, trên miền cao nguyên của Quân Khu II, trong chiến dịch quân sự mà cộng sản gọi là Cao Ðiểm Tân Hợi nhằm quấy phá những tỉnh biên thùy đã không thực hiện được. Có thể bởi hậu quả của những cuộc hành quân Tây chinh vượt biên Cửu Long của Quân Ðoàn IV, Toàn Thắng của Quân Ðoàn III và Bình Tây của Quân Ðoàn II trong năm 1970 đã gây tổn thất nặng ở những kho tiếp tế hậu cần của cộng sản, nên chúng khó thể đủ sức mở được những mặt trận lớn như mong muốn. Ðêm 31.1.1971, lúc 3 giờ sáng, một lực lượng cộng quân tấn công vị trí của Ðại Ðội 838 Ðịa Phương Quân tại làng Plei Kênh Săn thuộc tỉnh Pleiku..
Cuộc tấn công đã rất sớm bị thảm bại vì quân địch đã không thể ngờ rằng, có những người vợ lính cũng đã chiến đấu dũng mãnh như thế nào. Ðại Ðội 838 Ðịa Phương Quân đa số chiến sĩ là người dân tộc Thượng, là những chiến sĩ sinh ra và lớn lên ở giữa núi rừng cao nguyên, đã hun đúc các anh trở thành những con người cứng rắn như những tảng đá khổng lồ trên triền dãy Trường Sơn. Người Thượng quen sống kiếp du mục du canh, nên khi người lính Thượng Ðịa Phương Quân đóng đồn ở đâu thì vợ con của các anh cũng đi theo và nhanh chóng thích ứng với môi trường cùng cuộc sống mới ở nơi đó. Tuy là phụ nữ, nhưng những người đàn bà Tây nguyên dẻo dai không kém gì người đàn ông Thượng. Vai mang gùi nặng trên lưng, chân trần chai sạn vì đá cứng và gai nhọn của núi rừng, cùng hoàn cảnh sinh tồn khắc nghiệt, bất cứ một người phụ nữ Thượng nào cũng đã được thiên nhiên rèn luyện nên thành một mẫu người khỏe mạnh, rắn rỏi, nhưng vẫn giữ được những dường nét mềm mại tràn đầy mạch sống. Cho nên khi cuộc chiến đấu nổ ra, thì những người đàn bà đó đã rất nhanh chóng trở thành những người nữ binh hăng hái cầm súng đánh địch. Một trong những người chị đó là chị Ksor Amreng, vợ của Binh Nhứt Kpa Dan.
Anh chị Dan và Amreng đều là người sắc tộc Djarai, sinh quán ở quận Phú Túc, tỉnh Phú Bổn. Từ sau khi thành hôn, anh Dan nhập ngũ, thì chị Amreng cũng đã theo chồng lên sinh sống trong những tiền đồn hẻo lánh ở biên giới trong quận Phú Nhơn, tỉnh Pleiku, những địa danh thật xa lạ với chị : Queng Mep, Plei Kênh Săn. Khi quân cộng sản Bắc Việt nổ súng tấn công Plei Kênh Săn, chị Amreng đã vững vàng trong tư thế phụ xạ thủ đại liên cho chồng. Khẩu đại liên M60 nằm phía sau những lổ châu mai nhỏ đã bị giới hạn rất nhiều khu vực tác xạ, anh Dan quyết định dời khẩu đại liên sang một vị trí khác có xạ trường rộng lớn và bao quát hơn. Trong lúc chị Amreng chạy đi chạy lại để khiêng những thùng đạn đại liên sang vị trí mới, thì có ba tên Ðặc Công Việt cộng đã nhào vào đánh cận chiến với anh Dan. Anh Dan thật dũng cảm, như một con beo ở rừng xanh, bằng tay không anh đã vật lộn với chúng mà không nao núng. Chị Amreng vừa vác một thùng đạn đến, quát bảo anh Dan tránh ra xa. Hiểu ý vợ, anh Dan lăn một vòng, một trái lựu đạn M26 từ trong tay chị Amreng được ném tới. Ba tên Ðặc Công chưa kịp phản ứng, thì một tiếng nổ chát chúa đã đốn gục chúng xuống ngay bên cạnh đường giao thông hào. Khẩu đại liên M60 trong tay đôi vợ chồng Dan và Amreng đã bắt đầu nổ dòn dã ngăn chận tất cả những cuộc tấn công biển người của địch vào đồn. Anh Dan đang say mùi thuốc súng, anh đã không để ý nhiều tên Ðặc Công khác đã bò vào gần khẩu đại liên để mở cuộc cận chiến lần nữa.
Nhưng chúng không biết rằng người nữ binh vóc dáng nhỏ bé với khuôn mặt hiền lành như một em bé đã rất cảnh giác. Ba trái lựu đạn M26 đã được chị quăng ra rất chính xác vào những cái bóng đen đang bò lổn nhổn. Giữa tiếng súng nổ ầm ầm, chị Amreng đã có thể nghe thấy tiếng kêu gào thảm thiết của những lính địch trúng phải lựu đạn của chị. Ðến lúc này thì anh Kpa Dan chợt nhận ra rằng mình đã bị thương, chị Amreng lập tức trở thành xạ thủ chính, anh Dan lùi qua một bên làm xạ thủ phụ cho chị. Hào hùng không kém gì những đấng nam nhi, người nữ chiến sĩ ấy đã cùng với khẩu M60 đốn ngã hàng loạt cuộc tấn công của giặc. Sinh mạng của cái đồn nhỏ Plei Kênh Săn phần lớn trông cậy vào khẩu đại liên. Nói một cách chính xác, toàn tiền đồn cậy nhờ vào đôi bàn tay nhỏ nhắn của một cô gái mà ngày thường rất hiền hòa và ít nói này.
Khi ánh bình minh lên, giặc chấp nhận thua cuộc và đã rút đi, chiến trường đã hoàn toàn im tiếng súng, lũ chim rừng sau một đêm kinh hoàng đã ríu rít hát ca trên cành lá đón chào một ngày mới. Tin chiến thắng của Plei Kênh Săn đã bay về đến Pleiku và cái tên Ksor Amreng thật dịu dàng và thật đẹp ấy đã được người dân thành phố gọi là buồn muôn thuở này nhắc nhở nhiều. Kinh lẫn Thượng, đồng bào Pleiku đã chung góp gửi đến chị Amreng và Ðại Ðội 838 Ðịa Phương Quân nhiều tặng phẩm và tiền thưởng. Thiếu Tướng Ngô Dzu, Tư Lệnh Quân Ðoàn II & Quân Khu II đã đích thân bay trực thăng đến Plei Kênh Săn trân trọng trao gắn cho người lính không số quân Amreng chiếc huy chương cao quí Anh Dũng Bội Tinh, một vinh dự hiếm có dành cho một người dân sự .
Tấm gương chiến đấu của chị Ksor Amreng là một trong nhiều tấm gương thầm lặng còn chưa được biết của những người chị trên cao nguyên trong cuộc chiến tranh bảo quốc bi tráng của dân tộc Việt Nam. Ngày nay, những thế hệ đi sau anh chị Dan và Amreng sẽ mãi nhớ rằng, dòng máu kiên cường uy vũ bất năng khuất, mà anh chị cùng những chiến sĩ Thượng, từng một thời thể hiện dưới lá Quốc Kỳ Việt Nam Cộng Hòa và Quân Kỳ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, là một niềm kiêu hãnh sáng chói mà họ, những đồng bào Thượng đang bị kềm kẹp oan khuất dưới bàn tay sắt máu của cộng sản Bắc Việt, cũng sẽ có ngày vùng lên ném những quả lựu đạn, và bắn những tràng đại liên vào giữa mặt bọn chúng, để hủy diệt chúng, bọn vô dân tộc, vô thần đó, và cho chúng biết lòng quật khởi phi thường của người dân Nước Nam.

Phạm Phong Dinh
18/4/2013






^Xem Lại Trên